Chương I: Tổng quan các tài liệu nghiên cứu liên quan đến đề tài Chương II: Cơ sở lý luận về Chuỗi giá trị toàn cầu của Ngành điện tử Chương III: Ngành điện tử Việt Nam và sự tham gia vào Chuỗi giá trị toàn cầu Chương IV: Một số giải pháp nâng cao năng lực tham gia Chuỗi giá trị toàn cầu của Việt Nam 13 CHUONG I: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Nội dung các tài liệu liên quan đến van đề nghiên cứu Các nội dung liên quan tới đề tài được nghiên cứu theo nhiều chiều hướng khác nhau, tuy nhiên có thể tóm tắt được theo nội dung cơ bản như sau: * Các nghiên cứu về chuỗi giá trị toàn cầu ngành điện tử và đặc điểm của chuỗi Tác giả Michael Porter lần đầu đưa ra thuật ngữ “chuỗi giá trị” trong cuốn sách “Competitive Advantage: Creating and Sustaining Superior Performance" (Michael Porter 1985), các khái niệm cũng như mô hình về chuỗi giá trị trong hoạt động kinh tế đã được nghiên cứu này đưa ra rất chỉ tiết. Bài nghiên cứu sử dụng mô hình chuỗi giá trị của Michael Porter như một tài liệu tham khảo dé hình thành khung lý thuyết cho sự phân tích chuỗi giá trị của ngành hàng điện tử. Petra Dũnhaupt và HansJörg Herr (2020) đã phân tích trong bài nghiên cứu “Global Value Chains - A Ladder for Development?” cụ thé răng Chuỗi giá trị toàn cầu đã mang lại những cơ hội mới về hội nhập thương mại quốc tế cũng như day nhanh việc công nghiệp hóa của các quốc gia đang phát triển một cách dé dàng nhất. Tuy nhiên bên cạnh đó, bai cũng chỉ ra các quốc gia này vẫn đang mắc kẹt trong các hoạt động có giá trị gia tăng thấp, điển hình là 6 các khâu lắp ráp, chế biến sản phâm đơn thuần.
Bai nghiên cứu cũng chỉ ra các mặt hạn chế trong cơ cấu thị trường hiện nay, khi các doanh nghiệp đương nhiệm lại tỏ ra khá là e dè và đề phòng trước các doanh nghiệp mới mở chỉ vì quy mô của họ; sự phân cấp, tập trung quyền lực trong thị trường dẫn tới một mối nguy hại khác, đó chính là van đề trục lợi. Rất nhiều doanh nghiệp dẫn dau và các doanh nghiệp trung gian lớn trong GVCs đi theo con đường trục lợi trong thị trường mua ban của họ, vì những doanh nghiệp dẫn đầu đều tiên phong và đi đầu về công nghệ, họ sở hữu tải sản trí tuệ vô cùng lớn, cho nên điều này càng làm góp phần gia tăng khả năng này. Việc tham gia GVC hay sự hỗ trợ từ FDI sẽ giúp trong các lĩnh vực như nâng cấp sản phẩm hay nâng cao quy trình sản xuất và điều này được thé hiện qua một số kết quả tích cực về năng suất và bồi dưỡng tay nghé, nhưng có thé thấy rõ được các doanh nghiệp FDI sẽ không chuyên giao năng lực cốt lõi cũng như sẽ không tự động tạo ra các liên kêt thuận và ngược với các doanh nghiệp nội 14 địa. Điều này cũng tạo ra sự tăng trưởng ban cùng hoá dẫn tới sự mat cân bằng giữa các nước phát triển ở phía Bắc và các nước đang phát triển ở phía Nam.
Bên cạnh đó, bài nghiên cứu cũng chỉ rõ ra được, việc nâng cấp môi trường làm việc hay tăng mức lương cho người lao động không đồng nghĩa với việc tăng trưởng nên kinh tế, tuy nhiên nó sẽ góp phần tăng trưởng về mặt xã hội. Qua đó, bài nghiên cũng đưa ra một số giải pháp, ý kiến nhằm góp phan nâng cao quyên lợi cho tất cả các bên, tạo ra sự cân bằng trong thương mại khi tham gia GVC. * Các nghiên cứu liên quan tới chuỗi giá trị điện tử toàn cầu, các nhân tố ảnh hưởng đến chuỗi giá trị toàn cầu của ngành điện tử, sự tham gia của Việt Nam và các giải pháp Nghiên cứu “Participation of Developing Countries in Global Value Chains: Implications for Trade and Trade-Related Policies” (2015) của Tô chức Hop tac va Phat triển Kinh tế (OECD) đã chỉ ra được các yếu tô ảnh hưởng và quyết định tới sự tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu của các quốc gia ở các mức độ phát triển kinh tế khác nhau, đặc biệt là các nước ở Châu Á. Nghiên cứu cho thấy những lợi ích mà các nước mang lại khi tham gia vào GVC, điền hình là trong thời budi các nước tham gia một càng nhiều và những cơ hội mới được mở ra dé hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu bằng cách các doanh nghiệp có thê tham gia vào các mạng lưới sản xuất quốc tế thay vì phải tự xây dựng từ đầu.
Bài cũng đưa ra những giải thích sâu hơn về các khái niệm “nâng cấp” trong GVC, có thể hiểu một cách đơn giản là nhu cầu nắm bắt được thị phần của người tiêu dùng với các mặt hàng có giá trị gia tăng trong xuất khẩu hoặc là nhắm vào các sản phâm/công đoạn sản xuất kỹ thuật cao cụ thể nào đó. Kết quả bài nghiên cứu cũng cho thấy các hoạt động mua và bán trong chuỗi giá trị của các quốc gia có xu hướng nhập nguyên liệu đầu vào từ nước ngoài để sản xuất mặt hàng xuất khẩu hoặc xuất khâu các nguyên liệu đầu vào cho các đối tác nước ngoài đề sản xuất mặt hàng xuất khẩu của họ, mối liên kết này có xu hướng mang lại lợi ích kinh tế khá cao. 15 Bài nghiên cứu “Vi thé của Việt Nam trong Chuối giá trị toàn cau" (2019) của tac giả Nguyễn Việt Khôi và Shashi Kant Chaudhary đã nghiên cứu khá rõ về sự tăng trưởng đáng kề của Việt Nam từ khi tham gia vào ŒVC, đặc biệt là trong ngành điện tử. Tuy nhiên bài nghiên cứu cũng chỉ ra rõ được Việt Nam mới chỉ đang chuyên về các hoạt động hạ nguồn của chuỗi giá trị như lắp ráp sản phâm ở những khâu cuối sau đó phân phối và xuất khẩu sản phẩm.
Qua đó, các tác giả đã đưa ra các giải pháp để Việt Nam có thé cải thiện được tình hình cũng như nâng cao vị thế trong GVC qua từng bước phát triển.2 Khoảng trống nghiên cứu Qua việc nghiên cứu các tài liệu liên quan tới van đề trong đề tài “Sw tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu của ngành điện tử Việt Nam giai đoạn 2016 - 2020” cho thấy, mỗi bài nghiên cứu lại có một cái nhìn khác nhau về chuỗi. Phần lớn các nghiên cứu chỉ ra được sức ảnh hưởng, cơ hội và thách thức mà các doanh nghiệp gặp phải khi tham gia chuỗi giá trị toàn cầu ngành điện tử. Một số bài nghiên cứu được rõ những nhân tố ảnh hưởng tới chuỗi giá trị ngành điện tử cũng đánh giá được mức độ tham gia, vị thế của Việt Nam trong chuỗi, trong đó, các bài nghiên cứu đều đưa ra được các giải pháp, ý kiến nhằm nâng cao vị thê của Việt Nam trong chuối giá tri toàn câu ngành điện tử nói chung. 16 CHUONG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE CHUOI GIA TRI TOÀN CAU CUA NGÀNH DIEN TU 2.1 Chuỗi giá trị toàn cầu 2.1 Khái niệm Thương mại quốc tế được Liên hợp Quốc xem là một hoạt động thúc đây khả năng tăng trưởng của một quốc gia, giúp xóa đói, giảm nghèo và phát triển nền kinh tế.
Nhiều quốc gia trên thế giới cũng coi Thương mại quốc tế như một công cụ quan trọng trong quá trình đạt được các Mục tiêu phát triển bền vững (Sustainable Development Goals - SDGs) năm 2030. Chuỗi giá trị toàn cầu (Global Value Chains - GVCs) là đặc tính mới được thương mại quốc tế tạo nên cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực thông tin và chuyên chở hàng hoá quốc tế, trong đó có sự góp mặt của nhóm nước đang phát triển, nhóm nước có nền kinh tế mới nổi và các nước phát triển vào phân công lao động quốc tế. GVCs đã bắt đầu đóng một vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu từ những năm 1990 trở đi. Đề hiểu một cách đơn giản nhất về định nghĩa này, GVCs là một chuỗi các hoạt động mà một công ty hay doanh nghiệp cụ làm, từ bước đầu thiết kế tới bước cuối giao hàng, nhằm mục đích tạo ra hoặc tăng thêm giá trị cho sản phẩm hoặc/và dịch vụ.
Và qua đó, cơ chế thị trường trong GVC đã góp phần không nhỏ trong quá trình hỗ trợ Công nghiệp hóa trên toàn cầu. Porter của Harvard Business School - người đầu tiên giới thiệu khai nệm về chuỗi giá trị đã viết “ Lợi thế cạnh tranh không thể được hiểu bằng cách nhìn vào một công ty như một toàn thể. Nó xuất phát từ nhiều hoạt động rời rạc mà công ty thực hiện trong việc thiết ké, sản xuất, tiếp thị, phân phối và hỗ trợ sản phẩm của mình. Mỗi hoạt động này có thể đóng góp vào vị trí chỉ phí tương đối của doanh nghiệp và tạo cơ sở cho sự khác biệt”, do đó, giá trị hàng hóa tăng cao bắt đầu từ những giai đoạn trung gian như nghiên cứu, thiết kế sản phẩm, sản xuất, dich vụ (như vận chuyên, phân phối, lưu kho,.) không nhất thiết phải dién ra ở một nước cô định, nó có thé được đặt ở nhiều quốc gia khác nhau, trên quy mô toàn cau, dé tận dung lợi thé của từng vùng miền.
Việc phân chia công đoạn san xuất nhằm giảm chi phi và giá thành sản phẩm. Bên cạnh đó, GVCs cũng đã tác động không ít tới phân công lao động 17 quốc tế, giúp nhóm nước đang phát triển và nhóm nước có nền kinh tế mới nổi gia tăng năng suất kinh tế, tận dụng lợi thế thương mại. Với lợi thế là nguồn nhân lực giá rẻ và dồi dào, việc gia nhập GVCs đã tạo vô số việc làm, gia tắng mức sống cho người lao động, nhằm đây nhanh quá trình Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá và thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các quốc gia. Sự gia tăng không ngừng của GVCs trong hon 30 năm qua đã dẫn đến việc phức tap hoá về mặt địa lý cũng như chuỗi cung ứng phân mảnh cho nhiều loại hàng hoá, tuy nhiên, với giá trị phát triển chiều doc thì GVCs ngày nay đã chiếm phân nửa thương mại toàn cầu (World Bank, 2019), có tới 70% thương mại quốc tế ngày nay liên quan tới GVCs (Tổ chức Hop tác và Phát triển Kinh tế - Organization for Economic Cooperation and Development - OECD).
GVCs được coi là một nhân tô cách mạng, tái cau trúc lại hệ thong sản xuất trên toàn cầu, từ mạng lưới sản xuất, chuỗi cung ứng, hoạt động thuê ngoài, các khu công nghiép,. Nhân tố này mang lại cả cơ hội lẫn thách thức cho tat cả các nước tham gia.