Sự Tham Gia Của Ngành Điện Tử Việt Nam Vào Chuỗi Giá Trị Toàn Cầu Giai Đoạn 2016 - 2020

Khóa luận phân tích sự tham gia của ngành điện tử Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu giai đoạn 2016-2020, nêu bật cơ hội và thách thức.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2021

52
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

PHẦN MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. Nội dung các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu

1.2. Khoảng trống nghiên cứu

2. CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU CỦA NGÀNH ĐIỆN TỬ

2.1. Chuỗi giá trị toàn cầu

2.2. Khái niệm

3. CHƯƠNG III: NGÀNH ĐIỆN TỬ VIỆT NAM VÀ SỰ THAM GIA VÀO CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU

3.1. Tổng quan về ngành điện tử Việt Nam

3.2. Sự tham gia của ngành điện tử Việt Nam trong Chuỗi giá trị toàn cầu

3.2.1. Hoạt động chế tạo, gia công

3.2.2. Hoạt động xuất - nhập khẩu

3.3. Tình hình thu hút FDI vào ngành điện tử

3.4. Đánh giá mức độ tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của ngành điện tử Việt Nam

4. CHƯƠNG IV: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC THAM GIA CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU CỦA VIỆT NAM

4.1. Bối cảnh dịch bệnh Covid hiện nay

4.2. Định hướng nâng cao năng lực tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của ngành điện tử Việt Nam

4.3. Một số gợi ý đối với ngành điện tử nhằm nâng cao năng lực tham gia chuỗi giá trị toàn cầu

4.3.1. Phát huy điểm mạnh của ngành điện tử trong bối cảnh bình thường mới

4.3.2. Đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển sản phẩm thay vì lắp ráp, gia công

4.3.3. Tích cực thu hút nguồn FDI chất lượng cao

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

DANH MỤC HÌNH

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Tham Gia Chuỗi Giá Trị Toàn Cầu Ngành Điện Tử Việt Nam

Ngành điện tử Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể trong việc tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu giai đoạn 2016-2020. Sự phát triển này không chỉ thể hiện qua kim ngạch xuất khẩu mà còn qua việc nâng cao năng lực sản xuất và cải thiện chất lượng sản phẩm. Ngành điện tử đóng góp khoảng 17,8% vào tổng sản phẩm công nghiệp của Việt Nam, cho thấy vai trò quan trọng của nó trong nền kinh tế. Việc tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu đã giúp Việt Nam nâng cao vị thế trên thị trường quốc tế, từ đó tạo ra nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp trong nước.

1.1. Đặc Điểm Ngành Điện Tử Việt Nam Trong Giai Đoạn 2016 2020

Ngành điện tử Việt Nam đã chứng kiến sự tăng trưởng mạnh mẽ với tốc độ bình quân đạt 23,8%/năm. Các sản phẩm điện tử, máy tính và linh kiện đã trở thành nhóm hàng xuất khẩu chủ lực, giúp Việt Nam vươn lên vị trí thứ 12 thế giới về xuất khẩu điện tử.

1.2. Vai Trò Của Ngành Điện Tử Trong Nền Kinh Tế

Ngành điện tử không chỉ tạo ra giá trị gia tăng cho nền kinh tế mà còn góp phần tạo ra hàng triệu việc làm. Sự phát triển của ngành này đã thúc đẩy các lĩnh vực khác như công nghệ thông tin và dịch vụ logistics.

II. Thách Thức Trong Việc Tham Gia Chuỗi Giá Trị Toàn Cầu Ngành Điện Tử

Mặc dù có nhiều thành tựu, ngành điện tử Việt Nam vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Các vấn đề như thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao, công nghệ lạc hậu và sự cạnh tranh gay gắt từ các quốc gia khác là những yếu tố cần được giải quyết. Đặc biệt, việc phụ thuộc vào các khâu lắp ráp và gia công đã khiến Việt Nam chưa thể nâng cao giá trị gia tăng trong chuỗi.

2.1. Thiếu Hụt Nguồn Nhân Lực Chất Lượng Cao

Ngành điện tử cần một lực lượng lao động có tay nghề cao để đáp ứng yêu cầu sản xuất hiện đại. Tuy nhiên, hiện tại, nguồn nhân lực vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu, dẫn đến việc các doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc nâng cao năng suất.

2.2. Công Nghệ Lạc Hậu Và Sự Cạnh Tranh

Nhiều doanh nghiệp trong ngành điện tử vẫn sử dụng công nghệ lạc hậu, điều này ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh. Sự gia tăng cạnh tranh từ các quốc gia như Trung Quốc và Ấn Độ cũng tạo ra áp lực lớn cho ngành điện tử Việt Nam.

III. Phương Pháp Nâng Cao Năng Lực Tham Gia Chuỗi Giá Trị Toàn Cầu

Để nâng cao năng lực tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, ngành điện tử Việt Nam cần áp dụng một số phương pháp hiệu quả. Việc đầu tư vào công nghệ mới, cải thiện quy trình sản xuất và tăng cường hợp tác quốc tế là những giải pháp quan trọng. Ngoài ra, việc phát triển nguồn nhân lực cũng cần được chú trọng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường.

3.1. Đầu Tư Vào Công Nghệ Mới

Đầu tư vào công nghệ mới sẽ giúp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Các doanh nghiệp cần tìm kiếm các giải pháp công nghệ tiên tiến để cải thiện quy trình sản xuất và giảm chi phí.

3.2. Tăng Cường Hợp Tác Quốc Tế

Hợp tác với các đối tác quốc tế sẽ giúp ngành điện tử Việt Nam tiếp cận công nghệ mới và mở rộng thị trường. Việc tham gia vào các hiệp định thương mại tự do cũng là một cách để gia tăng cơ hội xuất khẩu.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Và Kết Quả Nghiên Cứu

Nghiên cứu về sự tham gia của ngành điện tử Việt Nam vào chuỗi giá trị toàn cầu đã chỉ ra nhiều kết quả tích cực. Các doanh nghiệp đã có những bước tiến trong việc nâng cao giá trị sản phẩm và mở rộng thị trường xuất khẩu. Tuy nhiên, vẫn cần có những giải pháp cụ thể để duy trì và phát triển bền vững trong tương lai.

4.1. Kết Quả Xuất Khẩu Ngành Điện Tử

Kim ngạch xuất khẩu ngành điện tử đã tăng trưởng mạnh mẽ, đạt 44,6 tỷ USD vào năm 2020. Điều này cho thấy sự phát triển vượt bậc của ngành trong việc tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu.

4.2. Những Bài Học Kinh Nghiệm

Các doanh nghiệp cần học hỏi từ những thành công và thất bại của mình để cải thiện quy trình sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm. Việc áp dụng các bài học kinh nghiệm từ các quốc gia khác cũng là cần thiết.

V. Kết Luận Và Tương Lai Của Ngành Điện Tử Việt Nam

Ngành điện tử Việt Nam đang đứng trước nhiều cơ hội và thách thức trong việc tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Để duy trì đà phát triển, cần có những chiến lược dài hạn và sự hỗ trợ từ chính phủ. Tương lai của ngành điện tử phụ thuộc vào khả năng thích ứng và đổi mới của các doanh nghiệp trong bối cảnh toàn cầu hóa.

5.1. Chiến Lược Phát Triển Ngành Điện Tử

Cần xây dựng một chiến lược phát triển rõ ràng cho ngành điện tử, tập trung vào việc nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững. Các doanh nghiệp cần chủ động trong việc tìm kiếm cơ hội mới trên thị trường quốc tế.

5.2. Tương Lai Của Ngành Điện Tử Việt Nam

Tương lai của ngành điện tử Việt Nam sẽ phụ thuộc vào khả năng đổi mới và sáng tạo. Việc đầu tư vào nghiên cứu và phát triển sẽ là yếu tố quyết định cho sự thành công trong việc tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu.

10/07/2025
Khóa luận tốt nghiệp kinh doanh quốc tế sự tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu ngành điện tử việt nam giai đoạn 2016 2020

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I: Tổng quan các tài liệu nghiên cứu liên quan đến đề tài Chương II: Cơ sở lý luận về Chuỗi giá trị toàn cầu của Ngành điện tử Chương III: Ngành điện tử Việt Nam và sự tham gia vào Chuỗi giá trị toàn cầu Chương IV: Một số giải pháp nâng cao năng lực tham gia Chuỗi giá trị toàn cầu của Việt Nam 13 CHUONG I: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Nội dung các tài liệu liên quan đến van đề nghiên cứu Các nội dung liên quan tới đề tài được nghiên cứu theo nhiều chiều hướng khác nhau, tuy nhiên có thể tóm tắt được theo nội dung cơ bản như sau: * Các nghiên cứu về chuỗi giá trị toàn cầu ngành điện tử và đặc điểm của chuỗi Tác giả Michael Porter lần đầu đưa ra thuật ngữ “chuỗi giá trị” trong cuốn sách “Competitive Advantage: Creating and Sustaining Superior Performance" (Michael Porter 1985), các khái niệm cũng như mô hình về chuỗi giá trị trong hoạt động kinh tế đã được nghiên cứu này đưa ra rất chỉ tiết. Bài nghiên cứu sử dụng mô hình chuỗi giá trị của Michael Porter như một tài liệu tham khảo dé hình thành khung lý thuyết cho sự phân tích chuỗi giá trị của ngành hàng điện tử. Petra Dũnhaupt và HansJörg Herr (2020) đã phân tích trong bài nghiên cứu “Global Value Chains - A Ladder for Development?” cụ thé răng Chuỗi giá trị toàn cầu đã mang lại những cơ hội mới về hội nhập thương mại quốc tế cũng như day nhanh việc công nghiệp hóa của các quốc gia đang phát triển một cách dé dàng nhất. Tuy nhiên bên cạnh đó, bai cũng chỉ ra các quốc gia này vẫn đang mắc kẹt trong các hoạt động có giá trị gia tăng thấp, điển hình là 6 các khâu lắp ráp, chế biến sản phâm đơn thuần.

Bai nghiên cứu cũng chỉ ra các mặt hạn chế trong cơ cấu thị trường hiện nay, khi các doanh nghiệp đương nhiệm lại tỏ ra khá là e dè và đề phòng trước các doanh nghiệp mới mở chỉ vì quy mô của họ; sự phân cấp, tập trung quyền lực trong thị trường dẫn tới một mối nguy hại khác, đó chính là van đề trục lợi. Rất nhiều doanh nghiệp dẫn dau và các doanh nghiệp trung gian lớn trong GVCs đi theo con đường trục lợi trong thị trường mua ban của họ, vì những doanh nghiệp dẫn đầu đều tiên phong và đi đầu về công nghệ, họ sở hữu tải sản trí tuệ vô cùng lớn, cho nên điều này càng làm góp phần gia tăng khả năng này. Việc tham gia GVC hay sự hỗ trợ từ FDI sẽ giúp trong các lĩnh vực như nâng cấp sản phẩm hay nâng cao quy trình sản xuất và điều này được thé hiện qua một số kết quả tích cực về năng suất và bồi dưỡng tay nghé, nhưng có thé thấy rõ được các doanh nghiệp FDI sẽ không chuyên giao năng lực cốt lõi cũng như sẽ không tự động tạo ra các liên kêt thuận và ngược với các doanh nghiệp nội 14 địa. Điều này cũng tạo ra sự tăng trưởng ban cùng hoá dẫn tới sự mat cân bằng giữa các nước phát triển ở phía Bắc và các nước đang phát triển ở phía Nam.

Bên cạnh đó, bài nghiên cứu cũng chỉ rõ ra được, việc nâng cấp môi trường làm việc hay tăng mức lương cho người lao động không đồng nghĩa với việc tăng trưởng nên kinh tế, tuy nhiên nó sẽ góp phần tăng trưởng về mặt xã hội. Qua đó, bài nghiên cũng đưa ra một số giải pháp, ý kiến nhằm góp phan nâng cao quyên lợi cho tất cả các bên, tạo ra sự cân bằng trong thương mại khi tham gia GVC. * Các nghiên cứu liên quan tới chuỗi giá trị điện tử toàn cầu, các nhân tố ảnh hưởng đến chuỗi giá trị toàn cầu của ngành điện tử, sự tham gia của Việt Nam và các giải pháp Nghiên cứu “Participation of Developing Countries in Global Value Chains: Implications for Trade and Trade-Related Policies” (2015) của Tô chức Hop tac va Phat triển Kinh tế (OECD) đã chỉ ra được các yếu tô ảnh hưởng và quyết định tới sự tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu của các quốc gia ở các mức độ phát triển kinh tế khác nhau, đặc biệt là các nước ở Châu Á. Nghiên cứu cho thấy những lợi ích mà các nước mang lại khi tham gia vào GVC, điền hình là trong thời budi các nước tham gia một càng nhiều và những cơ hội mới được mở ra dé hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu bằng cách các doanh nghiệp có thê tham gia vào các mạng lưới sản xuất quốc tế thay vì phải tự xây dựng từ đầu.

Bài cũng đưa ra những giải thích sâu hơn về các khái niệm “nâng cấp” trong GVC, có thể hiểu một cách đơn giản là nhu cầu nắm bắt được thị phần của người tiêu dùng với các mặt hàng có giá trị gia tăng trong xuất khẩu hoặc là nhắm vào các sản phâm/công đoạn sản xuất kỹ thuật cao cụ thể nào đó. Kết quả bài nghiên cứu cũng cho thấy các hoạt động mua và bán trong chuỗi giá trị của các quốc gia có xu hướng nhập nguyên liệu đầu vào từ nước ngoài để sản xuất mặt hàng xuất khẩu hoặc xuất khâu các nguyên liệu đầu vào cho các đối tác nước ngoài đề sản xuất mặt hàng xuất khẩu của họ, mối liên kết này có xu hướng mang lại lợi ích kinh tế khá cao. 15 Bài nghiên cứu “Vi thé của Việt Nam trong Chuối giá trị toàn cau" (2019) của tac giả Nguyễn Việt Khôi và Shashi Kant Chaudhary đã nghiên cứu khá rõ về sự tăng trưởng đáng kề của Việt Nam từ khi tham gia vào ŒVC, đặc biệt là trong ngành điện tử. Tuy nhiên bài nghiên cứu cũng chỉ ra rõ được Việt Nam mới chỉ đang chuyên về các hoạt động hạ nguồn của chuỗi giá trị như lắp ráp sản phâm ở những khâu cuối sau đó phân phối và xuất khẩu sản phẩm.

Qua đó, các tác giả đã đưa ra các giải pháp để Việt Nam có thé cải thiện được tình hình cũng như nâng cao vị thế trong GVC qua từng bước phát triển.2 Khoảng trống nghiên cứu Qua việc nghiên cứu các tài liệu liên quan tới van đề trong đề tài “Sw tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu của ngành điện tử Việt Nam giai đoạn 2016 - 2020” cho thấy, mỗi bài nghiên cứu lại có một cái nhìn khác nhau về chuỗi. Phần lớn các nghiên cứu chỉ ra được sức ảnh hưởng, cơ hội và thách thức mà các doanh nghiệp gặp phải khi tham gia chuỗi giá trị toàn cầu ngành điện tử. Một số bài nghiên cứu được rõ những nhân tố ảnh hưởng tới chuỗi giá trị ngành điện tử cũng đánh giá được mức độ tham gia, vị thế của Việt Nam trong chuỗi, trong đó, các bài nghiên cứu đều đưa ra được các giải pháp, ý kiến nhằm nâng cao vị thê của Việt Nam trong chuối giá tri toàn câu ngành điện tử nói chung. 16 CHUONG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE CHUOI GIA TRI TOÀN CAU CUA NGÀNH DIEN TU 2.1 Chuỗi giá trị toàn cầu 2.1 Khái niệm Thương mại quốc tế được Liên hợp Quốc xem là một hoạt động thúc đây khả năng tăng trưởng của một quốc gia, giúp xóa đói, giảm nghèo và phát triển nền kinh tế.

Nhiều quốc gia trên thế giới cũng coi Thương mại quốc tế như một công cụ quan trọng trong quá trình đạt được các Mục tiêu phát triển bền vững (Sustainable Development Goals - SDGs) năm 2030. Chuỗi giá trị toàn cầu (Global Value Chains - GVCs) là đặc tính mới được thương mại quốc tế tạo nên cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực thông tin và chuyên chở hàng hoá quốc tế, trong đó có sự góp mặt của nhóm nước đang phát triển, nhóm nước có nền kinh tế mới nổi và các nước phát triển vào phân công lao động quốc tế. GVCs đã bắt đầu đóng một vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu từ những năm 1990 trở đi. Đề hiểu một cách đơn giản nhất về định nghĩa này, GVCs là một chuỗi các hoạt động mà một công ty hay doanh nghiệp cụ làm, từ bước đầu thiết kế tới bước cuối giao hàng, nhằm mục đích tạo ra hoặc tăng thêm giá trị cho sản phẩm hoặc/và dịch vụ.

Và qua đó, cơ chế thị trường trong GVC đã góp phần không nhỏ trong quá trình hỗ trợ Công nghiệp hóa trên toàn cầu. Porter của Harvard Business School - người đầu tiên giới thiệu khai nệm về chuỗi giá trị đã viết “ Lợi thế cạnh tranh không thể được hiểu bằng cách nhìn vào một công ty như một toàn thể. Nó xuất phát từ nhiều hoạt động rời rạc mà công ty thực hiện trong việc thiết ké, sản xuất, tiếp thị, phân phối và hỗ trợ sản phẩm của mình. Mỗi hoạt động này có thể đóng góp vào vị trí chỉ phí tương đối của doanh nghiệp và tạo cơ sở cho sự khác biệt”, do đó, giá trị hàng hóa tăng cao bắt đầu từ những giai đoạn trung gian như nghiên cứu, thiết kế sản phẩm, sản xuất, dich vụ (như vận chuyên, phân phối, lưu kho,.) không nhất thiết phải dién ra ở một nước cô định, nó có thé được đặt ở nhiều quốc gia khác nhau, trên quy mô toàn cau, dé tận dung lợi thé của từng vùng miền.

Việc phân chia công đoạn san xuất nhằm giảm chi phi và giá thành sản phẩm. Bên cạnh đó, GVCs cũng đã tác động không ít tới phân công lao động 17 quốc tế, giúp nhóm nước đang phát triển và nhóm nước có nền kinh tế mới nổi gia tăng năng suất kinh tế, tận dụng lợi thế thương mại. Với lợi thế là nguồn nhân lực giá rẻ và dồi dào, việc gia nhập GVCs đã tạo vô số việc làm, gia tắng mức sống cho người lao động, nhằm đây nhanh quá trình Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá và thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các quốc gia. Sự gia tăng không ngừng của GVCs trong hon 30 năm qua đã dẫn đến việc phức tap hoá về mặt địa lý cũng như chuỗi cung ứng phân mảnh cho nhiều loại hàng hoá, tuy nhiên, với giá trị phát triển chiều doc thì GVCs ngày nay đã chiếm phân nửa thương mại toàn cầu (World Bank, 2019), có tới 70% thương mại quốc tế ngày nay liên quan tới GVCs (Tổ chức Hop tác và Phát triển Kinh tế - Organization for Economic Cooperation and Development - OECD).

GVCs được coi là một nhân tô cách mạng, tái cau trúc lại hệ thong sản xuất trên toàn cầu, từ mạng lưới sản xuất, chuỗi cung ứng, hoạt động thuê ngoài, các khu công nghiép,. Nhân tố này mang lại cả cơ hội lẫn thách thức cho tat cả các nước tham gia.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ