Chương 1: Cơ sở lý luận về chuỗi giá trị ô tô toàn cầu và sự cần thiết phải tham gia vào chuỗi giá trị ô tô toàn cầu của ngành công nghiệp ô tô các nƣớc. Chương 2: Thực trạng tham gia chuỗi giá trị ô tô toàn cầu của một số nƣớc Châu Á và Việt Nam. Chương 3: Quan điểm, định hƣớng và một số gợi ý về tham gia chuỗi giá trị ô tô toàn cầu của ngành công nghiệp ô tô Việt nam. 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHUỖI GIÁ TRỊ Ô TÔ TOÀN CẦU VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI THAM GIA VÀO CHUỖI GIÁ TRỊ Ô TÔ TOÀN CẦU CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP Ô TÔ CÁC NƢỚC 1.
TỔNG QUAN VỀ CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU Tiếp cận chuỗi giá trị toàn cầu là vấn đề mới ở Việt nam. Tuy nhiên thuật ngữ chuỗi giá trị đã đƣợc đƣa ra từ đầu những năm 80 bởi Michael Porter với công trình về các lợi thế cạnh tranh. Michael Porter đã dùng khung phân tích chuỗi giá trị để đánh giá xem một công ty nên xác định vị trí của mình nhƣ thế nào trên thị trƣờng và trong mối quan hệ với nhà cung cấp, khách hàng và đối thủ cạnh tranh. Michael Porter đã đề cập đến những hoạt động của công ty nhƣ một phần của một chuỗi các hoạt động rộng hơn mà ông gọi là hệ thống giá trị.
Một hệ thống giá trị bao gồm các hoạt động do tất cả các công ty tham gia trong việc sản xuất một hàng hóa hoặc dịch vụ bắt đầu từ nguyên liệu thô đến khi phân phối thành phẩm đến tay ngƣời tiêu dùng cuối cùng. Sau đó, lý thuyết chuỗi giá trị toàn cầu đƣợc các học giả nhƣ Gereffi và các cộng sự (1994, 1999), Kaplinsky và Morris (2000), Humphrey và Schmitz (2001) đƣa ra. Gereffi đã đƣa ra khái niệm chuỗi hàng hóa toàn cầu để coi nhƣ chuỗi giá trị toàn cầu. Kaplinsky và Morris đƣa ra khái niệm chuỗi giá trị toàn cầu.
Ngoài ra, cũng còn có một số học khái niệm nhƣ “chuỗi cung ứng”, “chuỗi nhu cầu”, mạng sản xuất” cũng đƣợc dùng thay thế cho thuật ngữ chuỗi giá trị. Tuy cũng có nhiều tham luận về các khái niệm này nhƣng cũng chƣa thống nhất. Vì vậy, việc trình bày các khái niệm và phân biệt chúng để đi đến 5 thống nhất về khái niệm chuỗi giá trị toàn cầu phục vụ cho phân tích trong đề tài này là rất cần thiết. Những khái niệm cơ bản về chuỗi giá trị Chuỗi cung ứng (Supply Chain) Chuỗi cung ứng là chuỗi liên kết các công đoạn từ khâu cung cấp nguyên vật liệu thô chƣa qua xử lý đến khâu sản phẩm đến tay ngƣời tiêu dùng cuối cùng, chuỗi cung ứng cũng kết nối nhiều công ty lại với nhau.
Chuỗi cung ứng đƣợc bắt đầu từ việc khai thác các nguyên liệu thô, qua các nhà cung cấp, đến doanh nghiệp sản xuất ra thành phẩm cuối cùng, sau đó qua các kênh phân phối và ngƣời tiêu dùng là mắt xích cuối cùng của chuỗi. Nó là một mạng lƣới bao gồm những đơn vị, công đoạn có liên quan với nhau trong việc khai thác tài nguyên nhằm sản xuất ra sản phẩm phục vụ cho ngƣời tiêu dùng, kể cả các công đoạn trung gian nhƣ vận tải, kho bãi, bán buôn, bán lẻ và bản thân khách hàng. Trong nội bộ của một doanh nghiệp cũng có chuỗi cung ứng nội bộ, bao gồm các bộ phận sản xuất, các bộ phận phục vụ và các bộ phận chức năng có liên quan đến thỏa mãn nhu cầu của khách hàng nhƣ phát triển sản phẩm mới, tiếp thị, vận hành, phân phối, tài chính, và dịch vụ khách hàng. Quản trị chuỗi cung ứng là quản trị toàn bộ chuỗi.
Trong chuỗi cung ứng đƣợc phân thành hai chiều, chiều thuận mô tả dòng chảy hàng hóa trong chuỗi; chiều nghịch mô tả dòng thanh toán, dòng thông tin phản hồi. Chuỗi cung ứng gồm ba phần là thƣợng nguồn (upstream), doanh nghiệp và hạ nguồn (downstream). Thƣợng nguồn lầ một phần của chuỗi cung ứng từ phía doanh nghiệp đến nhà cung cấp nguyên liệu thô, nó tƣơng ứng với phía mua. Hạ nguồn là một phần của chuỗi từ phía doanh nghiệp đến phía ngƣời tiêu dùng cuối cùng, nó tƣơng ứng với phía bán.
Chuỗi cung ứng đƣợc mô tả nhƣ sơ đồ số 1 dƣới đây: 6 Nguồn: Bài giảng của GS. Souviron về Quản trị chuỗi cung cấp Sơ đồ số 1.1: Cấu trúc của chuỗi cung ứng Chuỗi nhu cầu (Demand chain) Là một tên khác của thuật ngữ chuỗi cung ứng nhằm nhấn mạnh nhu cầu của khách hàng hoặc ngƣời sử dụng cuối cùng trong việc sử dụng nguyên liệu và sản phẩm trong suốt chuỗi cung ứng. Tuy nhiên, chuỗi nhu cầu đƣợc coi là hình ảnh tƣơng phản của chuỗi cung ứng. Chuỗi nhu cầu theo chiều ngƣợc lại với chuỗi cung ứng nghĩa là nó xuất phát từ phía nhu cầu của ngƣời tiêu dùng cuối cùng.
Nó giúp cho các công ty dự báo đƣợc nhu cầu để có kế hoạch sản xuất những sản phẩm đáp ứng đƣợc nhu cầu của thị trƣờng. Gereffi nhấn mạnh vào các mối quan hệ quyền lực về sự phối hợp trong hệ 7 thống sản xuất phân tán toàn cầu nhƣng có sự liên kết. Ông chỉ ra rằng chuỗi hàng hóa có đặc điểm của hãng dẫn đầu, các hãng này xác định các đặc điểm chung của chuỗi. Mạng sản xuất (Production Network) Là toàn bộ các liên kết trong hoặc giữa các hãng của một nhóm thuộc chuỗi giá trị để sản xuất những sản phẩm hoặc dịch vụ nhất định.
Chuỗi giá trị (Value Chain) Chuỗi giá trị mô tả tất cả các hoạt động cần thiết để biến một sản phẩm hoặc dịch vụ từ khâu ý tƣởng thông qua các giai đoạn khác nhau của quá trình sản xuất (liên quan đến việc kết hợp các công đoạn chuyển đổi đầu vào và dịch vụ đối với nhà sản xuất), đến khi phân phối tới ngƣời tiêu dùng cuối cùng và sự hủy bỏ khi sử dụng. Chuỗi giá trị đƣợc phân loại nhƣ sau: Chuỗi giá trị giản đơn (The Simple Value Chain) Chuỗi giá trị giản đơn bao gồm một loạt các hoạt động thực hiện trong một công ty để sản xuất ra sản phẩm nhất định. Các hoạt động này có thể gồm có: giai đoạn xây dựng khái niệm và thiết kế, quá trình mua vật tƣ đầu vào, sản xuất tiếp thị và phân phối, thực hiện các dịch vụ hậu mãi v. Tất cả những hoạt động này tạo thành một “chuỗi” kết nối ngƣời sản xuất với ngƣời tiêu dùng.
Mặt khác, mỗi hoạt động lại bổ sung giá trị cho thành phẩm cuối cùng. Hủy bỏ và tái chế Marketing và bán hàng Sản xuất Thiết kế và phát triển sản phẩm 8 Sơ đồ số 1.2: Bốn kết nối trong chuỗi giá trị giản đơn Nguồn: Olga Memedovic (2004) Chuỗi giá trị mở rộng (The Extended Value Chain) Tuy nhiên, chuỗi giá trị trong thực tế phức tạp hơn nhiều bởi vì thông thƣờng có nhiều kết nối trong chuỗi và một đối tƣợng có thể tham gia vào một số chuỗi. Chuỗi giá trị mở rộng gồm một chuỗi giá trị là một phức hợp những hoạt động do nhiều ngƣời tham gia khác nhau thực hiện (ngƣời sản xuất sơ cấp, ngƣời chế biến, thƣơng nhân, ngƣời cung cấp dịch vụ v.) để biến một nguyên liệu thô thành thành phẩm đƣợc bán lẻ. Chuỗi giá trị rộng bắt đầu từ hệ thống sản xuất nguyên liệu thô và chuyển dịch theo các mối liên kết với các doanh nghiệp khác trong kinh doanh, lắp ráp, chế biến vv.Chuỗi giá trị toàn cầu (Global Value Chain) Khái niệm Chuỗi giá trị toàn cầu là chuỗi giá trị trong đó các hoạt động do nhiều doanh nghiệp tiến hành trên quy mô rộng diễn ra ở nhiều nƣớc, khu vực trên thế giới.
Về cơ bản, chuỗi giá trị toàn cầu là một tiến trình, trong đó công nghệ đƣợc kết hợp với các nguồn nguyên liệu và lao động theo phƣơng thức toàn cầu hóa mà các doanh nghiệp tham gia vào các công đoạn khác nhau, từ nghiên cứu triển khai, sản xuất, lắp ráp, marketing, phân phối và hỗ trợ ngƣời tiêu dùng. Mỗi doanh nghiệp có thể là một mắt xích trong dây chuyền này hoặc cũng có thể hợp nhất theo chiều dọc của chuỗi trên phạm vi toàn cầu. Có hai loại chuỗi giá trị toàn cầu: Chuỗi giá trị theo hƣớng ngƣời sản xuất và chuỗi giá trị theo hƣớng ngƣời mua. Chuỗi giá trị theo hƣớng ngƣời mua là những chuỗi mà nhà sản xuất bằng thƣơng hiệu riêng, nhà bán buôn, nhà bán lẻ lớn đóng vai trò chủ chốt trong việc thiết lập mạng lƣới sản xuất 9 phi tập trung ở nhiều nƣớc xuất khẩu khác nhau, đặc biệt ở những nƣớc đang phát triển.
Chuỗi giá trị này phổ biến trong ngành công nghiệp cần nhiều lao động, ngành hàng tiêu dùng nhƣ may mặc, giày dép, đồ chơi, thủ công mỹ nghệ và điện dân dụng. Việc sản xuất đựợc thực hiện ở các nƣớc thế giới thứ ba cho ngƣời mua nƣớc ngoài. Các nhà bán lẻ lớn hoặc các nhà thƣơng nhân chỉ cần cung cấp các chi tiết kỹ thuật khi đặt hàng. Các hãng đại diện cho chuỗi giá trị này bao gồm các nhà bán lẻ nhƣ Wal-Mart, Sears và JC Penney; các công ty giày thể thao nhƣ Nike, Reebook; các công ty quần áo thời trang nhƣ Liz Claiborne, Gap và Limited Inc.
Nói chung, họ chỉ là nhà thiết kế hoặc nghiên cứu thị trƣờng mà không sản xuất sản phẩm với thƣơng hiệu của mình. Họ là những nhà sản xuất không có nhà máy, xí nghiệp với việc sản xuất tách rời thiết kế và marketing. Không giống nhƣ chuỗi giá trị theo hƣớng ngƣời sản xuất, lợi nhuận đến từ quy mô, số lƣợng và công nghệ tiên tiến thì đối với chuỗi giá trị theo hƣớng ngƣời mua, lợi nhuận có từ khâu có giá trị gia tăng cao nhƣ nghiên cứu thị trƣờng, thiết kế, bán hàng, marketing và các dịch vụ tài chính. Điều này cho phép các nhà bán lẻ, thiết kế, thƣơng nhân hành động nhƣ các nhà trung gian chiến lƣợc để liên kết các nhà máy, các nhà buôn bán nƣớc ngoài với việc định vị sản phẩm trong thị trƣờng của họ.
Chuỗi giá trị hƣớng ngƣời mua có đặc điểm là cạnh tranh cao, hệ thống nhà máy không tập trung với rào cản gia nhập thấp. Khả năng sinh lợi, tạo ra giá trị lớn nhất ở bộ phận chủ yếu của chuỗi giá trị toàn cầu cũng sẽ là rào cản gia nhập cao cho các hãng mới. Chuỗi giá trị theo định hƣớng ngƣời sản xuất là chuỗi giá trị mà thƣờng là công ty đa quốc gia đóng vai trò trung tâm trong việc phối hợp các mạng lƣới sản xuất.