đặt vấn đề vay vốn tại ngân hàng hay không?; + Người đại diện theo pháp luật của công ty; Quyết định bổ nhiệm chủ tịch và các thành viên hội đồng, tổng giám đốc hay giám đốc… Từ đó, xem xét khách hàng có đủ tư cách pháp nhân để xác lập mối quan hệ tín dụng với ngân hàng hay không? - Phân tích ngành hàng/lĩnh vực đầu tƣ + Đặc điểm ngành hàng/lĩnh vực kinh doanh chính của Doanh nghiệp trong thời gian gần đây: Mức độ cạnh tranh, Sự xuất hiện thêm các doanh nghiệp khác cùng ngành kinh doanh + Triển vọng của ngành hàng/lĩnh vực kinh doanh trong thời gian tới: Thuận lợi, Khó khăn, Xu hướng. + Đánh giá các tác động trực tiếp và gián tiếp đối với doanh nghiệp. + Đánh giá triển vọng ngành/lĩnh vực kinh doanh trong ngắn hạn và dài hạn (Rất tốt/Tốt/Trung bình/ Không tốt?Xu hướng của ngành? Nguyên nhân …) - Chất lƣợng quản lý của khách hàng: + Cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp + Đánh giá cơ cấu tổ chức, phương thức quản trị + Đánh giá năng lực quản lý của ban lãnh đạo (trình độ học vấn, kinh nghiệm, thành tích, danh tiếng, hệ thống thông tin hỗ trợ công tác quản lý…) - Phân tích tình hình tài chính, kinh doanh: + Đánh giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh + Tình hình thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch 18 + Chất lượng các khoản phải thu: Doanh nghiệp có tập trung vào một vài khách hàng chính không? Uy tín của các khách hàng này ra sao? Biện pháp quản lý các khoản phải thu của Công ty? Phương thức thanh toán? Nguyên nhân, thời điểm phát sinh phải thu khó đòi? Biện pháp xử lý của doanh nghiệp đối với nợ khó đòi ? + Chất lượng hàng tồn kho: Hàng tồn kho có luân chuyển bình thường không? Hàng tồn kho của doanh nghiệp luân chuyển nhanh hay chậm so với kỳ trước? Lý do. Có hàng tồn kho kém phẩm chất khó tiêu thụ không ?(hàng chậm luân chuyển), thời điểm và nguyên nhân phát sinh tồn kho chậm luân chuyển, biện pháp xử lý của doanh nghiệp? + Chất lượng các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn Chất lượng các khoản đầu tư tài chính dài hạn Chất lượng các khoản phải trả: Doanh nghiệp có tập trung vào một số nhà cung cấp nguyên vật liệu, hàng hóa không? Uy tín của các nhà cung cấp này ra sao? Biện pháp quản lý các khoản phải trả của Công ty? Phương thức thanh toán, trả chậm ra sao? Nguyên nhân, thời điểm phát sinh phải trả quá hạn (nếu có)? Tương ứng khoản phải trả quá hạn là tài sản nào trên bảng cân đối kế toán? Các biện pháp xử lý của do- anh nghiệp đối với khoản phải trả quá hạn? Phân tích các chỉ số tài chính: Cán bộ thẩm định khi phân tích chỉ số tài chính, cần hiểu được ý nghĩa của từng chỉ số sau khi tính toán (đây là một trong những phương pháp phổ biến và được sử dụng khá rộng rãi trong phân tích tài chính): Các chỉ tiêu về thanh khoản (bao gồm Khả năng thanh toán hiện thời, Khả năng thanh toán nhanh): Đánh giá khả năng thanh toán các nghĩa vụ nợ ngắn hạn; Các chỉ tiêu về cấu trúc vốn và đòn bẩy tài chính (bao gồm Tỷ số nợ so với vốn, Tỷ số nợ dài hạn so với vốn, Tỷ số nợ so với tổng tài sản): Đo lường cơ cấu nợ so với vốn chủ sở hữu và tổng qui mô nguồn vốn hoạt động; Tỷ số trang trải lãi vay: Đo lường khả năng của khách hàng trong việc trả lãi vay đến hạn; Các chỉ tiêu về hiệu quả hoạt động (bao gồm Vòng quay khoản phải thu, Vòng quay hàng tồn kho, Vòng quay khoản phải trả): Đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản của khách hàng; 19 Các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lợi (bao gồm Lãi gộp so với doanh thu, Lãi ròng so với doanh thu, Tỷ suất sinh lời tổng tài sản, Tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu): Đo lường mối quan hệ giữa lợi nhuận so với doanh thu, hoặc giá trị đầu tư; Các chỉ số về tăng trưởng: Đo lường mức độ, xu hướng thay đổi của các chỉ tiêu tài chính doanh nghiệp.
Việc phân tích tình hình kinh doanh và tài chính của doanh nghiệp (chủ đầu tư) giúp người thẩm định biết được thực trạng và tình hình tài chính của khách hàng, xác định xem hoạt động hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng đang diễn ra như thế nào? Tăng trưởng/suy giảm, ổn định/không ổn định, thuận lợi/khó khăn; đưa ra nhận định dự báo trong tương lai về tình hình hoạt động sản suất kinh doanh của khách hàng. Từ đó, đánh giá khả năng thu nhập bằng tiền và khả năng trả nợ lâu dài cũng như khả năng tham gia vào các phương án hoạt động sản xuất kinh doanh mới. Từ đó, tổ chức tín dụng có thể ra quyết định đúng đắn và kịp thời khi tài trợ vốn phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. - Tình hình quan hệ với các tổ chức tín dụng Việc đánh giá mối quan hệ của khách hàng với các tổ chức tín dụng (TCTD) là rất quan trọng, cho thấy thái độ của doanh nghiệp trong việc thực hiện các nghĩa vụ cũng như khả năng hợp tác với các TCTD.
Thông tin về quan hệ với các tổ chức tín dụng chủ yếu được thu thập qua Trung tâm thông tin tín dụng của Ngân hàng Nhà nước (CIC), từ đó sẽ biết được doanh nghiệp đã và đang vay ở đâu, lịch sử vay vốn như thế nào, có từng có nợ quá hạn hay nợ xấu không, tài sản đảm bảo cho các khoản vay vốn ra sao…Người thẩm định cần khai thác tốt, có hiệu quả nguồn thông tin này (số liệu phản ảnh mối quan hệ của khách hàng với các TCTD phải được cập nhật mới nhất) và chú ý cần đánh giá thái độ của doanh nghiệp trong việc khai báo các thông tin. Ngoài quan hệ tín dụng, các quan hệ giao dịch khác như quan hệ tiền gửi, bảo lãnh, thanh toán,. cần được đề cập và đánh giá đầy đủ. Thẩm định tín dụng dự án đầu tư - Thẩm định hồ sơ pháp lý của dự án đầu tƣ: + Quy định về thủ tục XDCB hiện hành 20 + Quy định về quy chế đấu thầu hiện hành + Quy chế đầu tư và xây dựng + Giấy phép xây dựng + Tổng dự toán công trình + Giấy phép hành nghề đối với các ngành đặc thù phải có giấy phép như giáo dục, y tế.
+ Hạn ngạch, giấy phép khai thác (ví dụ đối với ngành khai thác tài nguyên thiên nhiên)… + Giấy phép nhập khẩu thiết bị chuyên dùng, thiết bị cũ,. + Quy định của cơ quan tài nguyên môi trường, PCCC + Quy định của văn bản pháp luật chuyên ngành, các ngành liên quan đối với dự án,… + Các quy định khác, … Dự án đã thực hiện phù hợp chưa? thiếu gì? cần bổ sung thêm không? (Dẫn chiếu các quy định và nhận định việc thực hiện thủ tục pháp lý của Chủ đầu tư)… - Đánh giá mục tiêu của dự án, sự cần thiết phải đầu tƣ dự án: + Mục tiêu của dự án phù hợp hay không phù hợp: ở mức khiêm tốn quá và trở nên lãng phí cơ hội đầu tư? Phù hợp? hay ở mức quá tham vọng so với qui mô thị trường và năng lực của chủ đầu tư? + Lựa chọn qui mô đầu tư: Có phù hợp với qui mô của thị trường cũng như khả năng mở rộng thị phần và chiếm lĩnh thị trường hay không? + Qui mô vốn đầu tư: Tổng mức, cơ cấu, tiến độ huy động vốn đầu tư; + Tiến độ triển khai thực hiện dự án: Có phù hợp với các dự án tương tự không? liệu triển khai dự án có đảm bảo đúng được tiến độ dự kiến không? Với tiến độ dự kiến thì sẽ có những thuận lợi hay khó khăn gì so với các đối thủ cạnh tranh? 21 + Qui hoạch phát triển ngành, vùng, địa phương: một dự án được xem là cần thiết phải đầu tư là dự án đó phải phù hợp với qui hoạch cũng như chiến lược phát triển ngành, vùng, địa phương. + Điều kiện đủ để xác định sự cần thiết phải thực hiện đầu tư dự án: có những đánh giá tổng quan về thị trường cũng như năng lực của doanh nghiệp, trên cơ sở đó để xem xét vấn đề theo hướng: Dự án nếu được thực hiện đầu tư thì sẽ có những tác động gì đến doanh nghiệp? Với tình hình thị trường như hiện nay và dự báo trong những năm tới, lựa chọn thời điểm đầu tư như vậy có thuận lợi hay không, qui mô đầu tư có hợp lý không? Địa điểm đầu tư đã lựa chọn có phù hợp với thị trường mục tiêu không? Hình thức thức đầu tư có phù hợp với tính chất của dự án cũng như năng lực của chủ đầu tư không? c. Thẩm định nguồn vốn và cơ cấu vốn đầu tư: - Tổng vốn đầu tƣ dự án Việc thẩm định vốn đầu tư là rất quan trọng để tránh việc khi thực hiện, vốn đầu tư tăng lên hoặc giảm đi quá lớn so với dự kiến ban đầu, dẫn đến việc không cân đối được nguồn, ảnh hưởng đến hiệu quả và khả năng trả nợ của dự án.
Xác định tổng vốn đầu tư sát với thực tế sẽ là cơ sở để tính toán hiệu quả tài chính vả dự kiến khả năng trả nợ của dự án. Trong phần này, cán bộ thẩm định phải xem xét, đánh giá tổng vốn đầu tư của dự án đã được tính toán hợp lý chưa, tổng vốn đầu tư đã tính đủ các khoản cần thiết hay chưa, cần xem xét các yếu tố làm tăng chi phí do trượt giá, phát sinh thêm khối lượng, dự phòng việc thay đổi tỷ giá ngoại tệ nếu dự án có sử dụng ngoại tệ…Trên cơ sở những dự án tương tự đã thực hiện và được ngân hàng đúc rút ở giai đoạn thẩm định dự án sau đầu tư (về suất vốn đầu tư, về phương án công nghệ, về các hạng mục thực sự cần thiết và chưa thực sự cần thiết trong giai đoạn thực hiện dự án đầu tư…). Cán bộ thẩm định sau khi so sánh nếu thấy có sự khác biệt lớn ở bất kỳ nội dung nào thì phải tập trung phân tích, tìm hiểu nguyên nhân và đưa ra nhận xét. Từ đó, đưa ra cơ cấu vốn đầu tư hợp lý mà vẫn đảm bảo đạt được mục tiêu dự kiến ban đầu của dự án để làm cơ sở xác định mức tài trợ tối đa mà Ngân hàng tham gia vào dự án.