Chương 1 giới thiệu về dự án và nêu lên tính cấp thiết của đề tài, trả lời cho câu hỏi tại sao lại cần thực hiện đề tài. Chương 2 nói về tổng quan và phương pháp luận để thực hiện đề tài. Chương 3 mô tả dự án, giới thiệu tổng quát về dự án, đồng thời nhấn mạnh một số đặc điểm, đưa ra phương án thực hiện dự án. Chương 4 sẽ phân tích về mặt tài chính của dự án, trong đó mô tả các khoản doanh thu, chi phí, vay nợ, thuế, sau đó xác định các kết quả thẩm định để phân tích, đánh giá.
Chương 5 phân tích rủi ro về mặt tài chính của dự án, trong đó xác định mức độ, xác suất rủi ro mà dự án có thể chịu đựng được. Chương 6 sẽ phân tích về mặt kinh tế dự án, tức là đánh giá hiệu quả kinh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 tế xã hội nói chung của dự án, trong đó có phân tích về mặt ngoại tác và tác động ngân sách để đưa ra kết luận tính khả thi về mặt kinh tế của dự án. Chương 7 sẽ đưa ra các kết luận và kiến nghị cho dự án, trả lời cho câu hỏi dự án có đáng để thực hiện hay không, nếu thực hiện thì phải hạn chế những rủi ro nào và các đối tượng trực tiếp tham gia dự án sẽ cần lưu ý những gì khi thực hiện dự án. Tóm lại, thực hiện xây dựng khu chung cư, văn phòng cho thuê là phương án cần thiết để VBH chuyển đổi mục đích sử dụng đất, theo đặc quyền của pháp nhân đang có quyền sử dụng đất.
Nhưng trước hết VBH cần thẩm định về mặt tài chính và kinh tế của dự án để đầu tư và được nhà nước thông qua. Đề tài chỉ quan tâm tới việc thẩm định dự án mà không quan tâm đến các hoạt động kinh doanh hiện tại hay khu đất VBH sẽ phải chuyển đến. Đề tài được viết dưới dạng Chương mục, bao gồm 7 chương, trong đó trọng tâm nằm ở chương 4, 5 và 6. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Chương 2.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1 Chương 2 nói về các cơ sở lý thuyết và phương pháp được sử dụng để thực hiện việc phân tích, đánh giá đối dự án xây dựng khu chung cư văn phòng cho thuê Bình Hòa.1 Các quan điểm và nội dung phân tích dự án 12 Sau khi nhận ra cơ hội đầu tư tại VBH, TECCO tiến hành nghiên cứu tiền khả thi đối với dự án Bình Hòa. Vì nghiên cứu tiền khả thi cũng là một thủ tục bắt buộc để nhận được giấy phép đầu tư xây dựng từ phía chính quyền nên TECCO tiến hành các phân tích thị trường, kỹ thuật, nguồn lực và nhân sự, phân tích tài chính, đánh giá rủi ro và phân tích kinh tế đối với dự án. Tác giả thực hiện luận văn là người được TECCO giao nhiệm vụ trực tiếp thẩm định dự án. Vì đây là dự án liên doanh, có vay nợ và liên quan trực tiếp tới việc quản lý công sản hiện nay nên dự án sẽ được nhìn nhận, phân tích từ các quan điểm của tổng đầu tư và quan điểm của ngân hàng, quan điểm chủ đầu tư (quan điểm cổ đông), quan điểm của nền kinh tế nói chung và quan điểm của ngân sách.
• Quan điểm tổng đầu tư xem xét dự án về mặt tổng thể, bao gồm cả việc vay nợ và góp vốn đầu tư, tài trợ cho dự án. • Quan điểm của ngân hàng đánh giá mức độ an toàn của việc vay nợ bằng cách xem xét dòng ngân lưu chi phí đầu tư và vận hành, bảo trì của dự án và dòng ngân lưu tính toán doanh thu để xác định nhu cầu vay vốn và khả năng trả nợ của dự án. • Quan điểm chủ đầu tư (quan điểm cổ đông) xem xét giá trị thu nhập tiềm năng của dự án. Quan điểm chủ đầu tư đồng thời cũng tính toán các khoản vốn vay và lãi vay vào dòng ngân lưu ra để tính toán thu nhập còn lại cho cổ đông [10].
• Quan điểm của nền kinh tế nói chung tức là phân tích, tính toán lợi ích, thiệt hại khi thực hiện dự án trên toàn quốc gia, phân tích những ngoại tác khi thực hiện dự án. • Quan điểm của ngân sách xem dự án có thể tạo ra (hoặc tiêu tốn) nguồn ngân sách cho chính phủ, tức là phân tích những dòng tiền về thuế và trợ cấp mà nhà nước thu lại hoặc phải chi ra. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Các phương pháp sử dụng trong phân tích tài chính 13 Để đánh giá xem dự án có đáng để các doanh nghiệp đầu tư hay không, tác giả sử dụng phương pháp tính toán dòng tiền chiết giảm để tính giá trị hiện tại ròng (NPV), phương pháp tính suất sinh lợi nội tại (IRR) và phương pháp tỉ số lợi ích- chi phí (B/C), xem xét hệ số an toàn trả nợ (DSCR) và phương pháp tính thời gian hoàn vốn (PP - Payback Period) Cụ thể, phương pháp tính toán như sau: • NPV: Giá trị hiện tại của các dòng tiền sau khi trừ đi chi phí đầu tư. n Bi − Ci ∑ (1 + r ) = i =0 i [11] và [12] Bi: Lợi ích dự án Ci: Chi phí dự án r: Suất chiết khấu.
Tiêu chuẩn đánh giá: Dự án khả thi khi NPV ≥ 0 NPV là tiêu chuẩn đánh giá dòng tiền tạo ra ở mức độ tuyệt đối của dự án và của doanh nghiệp. NPV đã tính đến chi phí cơ hội của vốn của người đầu tư. NPV được tính cho từng đối tượng vì mỗi đối tượng có suất chiết khấu khác nhau. Tuy NPV không quan tâm tới quy mô và thời gian hoàn vốn, nhưng đây là tiêu chí quyết định đến việc lựa chọn các phương án phân tích.
• IRR: Suất chiết khấu để NPV= 0. n Bi − Ci ∑ (1 + r ) = 0 i =0 i Bi: Lợi ích dự án Ci: Chi phí dự án Tiêu chuẩn đánh giá: Dự án khả thi khi IRR ≥ MARR IRR là chỉ tiêu để so sánh với suất sinh lợi yêu cầu tối thiểu của nhà đầu tư (MARR), nhưng MARR lại là một yếu tố biến động theo thời gian và phụ thuộc vào thị trường, nên LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 đối với một dự án dài hạn như Bình Hòa thì IRR được dùng như phương pháp hỗ trợ, khẳng định tính khả thi hay không khả thi của dự án. • Tỉ số lợi ích/chi phí (B/C) [12] B/C = Giá trị hiện tại của tổng lợi ích / Giá trị hiện tại của tổng chi phí Tiêu chuẩn đánh giá: Dự án khả thi khi B/C > 1 Phương pháp tính B/C là khá rõ ràng nhưng lại phụ thuộc vào tỷ suất chiết khấu để tính toán giá trị hiện tại (NPV) của dòng tiền. • Hệ số an toàn trả nợ (DSCR).
DSCR tại thời điểm i = Tổng số tiền mặt sử dụng để trả nợ vào thời điểm i / Tổng số nợ 60 phải trả vào thời điểm i Tiêu chuẩn đánh giá: DSCR ≥ 1 (đối với chủ đầu tư) DSCR ≥ 1.2 (đối với ngân hàng) DSCR cho biết khả năng huy động tiền mặt để trả nợ tại một thời điểm, nhưng chỉ ở trong phạm vi của dự án mà không tính toán được khả năng huy động tiền mặt từ các dự án khác. Thực tế, một doanh nghiệp có thể huy động tiền mặt từ nhiều nguồn khác nhau, từ các dự án khác nhau để thanh toán nợ. • Thời gian hoàn vốn (PP - Payback Period) PP = (Vốn đầu tư)/(Thu nhập ròng hàng năm) = (năm, tháng) Tiêu chuẩn đánh giá: PP < 5 năm, 6 tháng (Vì MARR = 18%, PP = 1/18*100% = 5. PP có ưu điểm là tính toán đơn giản và dễ thuyết phục cổ đông, nhưng PP lại bỏ qua những những khoản đầu tư phát sinh sau khi thời điểm tính toán năm hoàn vốn.
PP cũng không quan tâm đến giá trị hiện tại của dòng tiền.3 Các phương pháp sử dụng trong phân tích kinh tế 14 Mặc dù không thể lượng hóa được toàn bộ những ngoại tác hoặc tính toán chính xác các lợi ích chi phí của dự án đối với nền kinh tế, khi xem xét dự án trên quan điểm của nền kinh tế nói chung, luận văn sẽ sử dụng phương pháp chuyển đổi giá CFi bằng cách điều chỉnh các khoản thuế và trợ cấp trong kết quả thẩm định về tài chính để chuyển đổi sang LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 giá kinh tế, sau đó tính toán các chỉ số NPV, IRR, B/C và đưa ra kết luận tính khả thi về mặt kinh tế của dự án. Tóm lại, dự án Bình Hòa sẽ được thẩm định bởi các tiêu chí NPV, IRR, B/C, DSCR, PP đối với phân tích tài chính và kinh tế bằng quan điểm của tổng đầu tư, chủ đầu tư, quan điểm của nền kinh tế nói chung và quan điểm của ngân sách, từ đó đưa ra kết luận về tính khả thi hay không khả thi của dự án. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Chương 3. MÔ TẢ DỰ ÁN 2 Chương 3 mô tả tổng quát và nhấn mạnh một số đặc điểm của dự án, đồng thời đưa ra phương án thực hiện dự án về mặt thiết kế, kiến trúc, xây dựng.
Chương này cũng đưa ra các thông số đầu ở mức độ tổng quát để phục vụ cho mục đích phân tích tài chính và kinh tế của dự án.1 Giới thiệu dự án 15 Công ty Cổ phần Điện tử Bình Hòa 4 (VBH) được chuyển đổi từ Công ty TNHH 1 thành 3 viên Điện tử Bình Hòa theo Quyết định số 2554/QĐ-TCCB ngày 08/8/2005 của Bộ trưởng Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công thương) được nhà nước cho thuê khu đất 24418,5m2, mục đích của việc sử dụng đất là để làm văn phòng, kho và xưởng sản xuất thiết bị điện tử, thời gian thuê đất kéo dài đến năm hết năm 2020. Nhưng VBH thuộc diện phải di rời hoạt động sản xuất của mình theo chính sách di rời các cơ sở sản xuất công nghiệp ra khỏi khu vực nội thành, khu đất mà VBH đang thuê sẽ bị được nhà nước thu hồi. Khu đất mà VBH đang thuê rất có lợi thế về vị trí địa lý vì nằm trong khu vực nội thành, có cơ sở hạ tầng tốt và giao thông thuận tiện, 2 mặt tiền là đường Nơ Trang Long và đường Chu Văn An, gần khu vực quận 1 và cách Sân bay quốc tế Tân sơn nhất 6km, bến xe Miền Đông chưa đến 4 km. Hiện tại khu đất đã được cấp điện, cấp nước và có hệ thống thoát nước.