Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Tâm lý học với đề tài "Thái độ với nghề của giáo viên mầm non các tỉnh Tây Nguyên" được nghiên cứu sinh Vũ Thị Thanh Hiển thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Phan Trọng Ngọ và PGS. Lê Minh Nguyệt, hoàn thành vào tháng 3 năm 2019. Luận án tập trung giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn về thái độ nghề nghiệp của đội ngũ giáo viên mầm non (GVMN) trong bối cảnh đặc thù của khu vực Tây Nguyên.

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vai trò của bậc học mầm non – bậc học đầu tiên trong hệ thống Giáo dục quốc dân, có mục tiêu giúp trẻ phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách và chuẩn bị cho trẻ vào lớp một. Lao động sư phạm của GVMN mang tính đặc thù cao khi kết hợp chức năng của ba loại nghề: giáo viên, thầy thuốc và nghệ sĩ; người giáo viên cùng lúc thực hiện vai trò của người mẹ, người thầy, người thầy thuốc, người nghệ sĩ và người bạn của trẻ trong độ tuổi từ 3 tháng đến 6 tuổi. Trong bối cảnh kinh tế thị trường và hội nhập, đời sống nghề nghiệp của GVMN chịu nhiều tác động; một bộ phận giáo viên vào nghề không xuất phát từ tình yêu nghề, thiếu nhận thức đầy đủ về giá trị nhân văn, dẫn đến hiện tượng thờ ơ, đối phó hoặc vi phạm đạo đức nghề nghiệp, bộc lộ qua các vụ việc bạo hành trẻ mầm non gây bức xúc xã hội (tra cứu trên công cụ tìm kiếm Google với cụm từ "trẻ mầm non bị bạo hành" cho khoảng 2.000 kết quả trong 0,41 giây). Tại khu vực Tây Nguyên, điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, cơ sở hạ tầng kém phát triển, địa bàn cư trú đan xen nhiều dân tộc, mức sống trung bình thấp và thiếu hụt nhân lực chất lượng cao, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa và vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Về mặt học thuật, các nghiên cứu tâm lý học trong nước đã tiếp cận thái độ và thái độ với nghề của nhiều nhóm lao động khác nhau, song chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên biệt và có hệ thống về thái độ với nghề của GVMN. Do đó, việc nghiên cứu thực trạng và đề xuất biện pháp nâng cao thái độ với nghề cho GVMN tại Tây Nguyên là yêu cầu cấp thiết.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án gồm ba nội dung chính:

  1. Xây dựng khung lý luận về thái độ đối với nghề của GVMN.
  2. Đánh giá thực trạng biểu hiện thái độ với nghề của GVMN các tỉnh Tây Nguyên và các yếu tố tác động đến thực trạng.
  3. Đề xuất và thực nghiệm biện pháp tâm lý - sư phạm nhằm xây dựng thái độ với nghề tích cực cho GVMN các tỉnh Tây Nguyên.

Để thực hiện mục tiêu trên, luận án xác định bốn nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước về thái độ với nghề và thái độ với nghề của GVMN.
  2. Xây dựng một số vấn đề lý luận cơ bản về thái độ với nghề của GVMN.
  3. Khảo sát thực trạng thái độ với nghề của GVMN các tỉnh Tây Nguyên, xác định các yếu tố ảnh hưởng tới thực trạng đó.
  4. Thực nghiệm các biện pháp tâm lý, sư phạm nhằm nâng cao thái độ với nghề của GVMN các tỉnh Tây Nguyên.

Giả thuyết khoa học của luận án bao gồm:

  1. Đa số GVMN các tỉnh Tây Nguyên có thái độ với nghề ở mức trung bình, được biểu hiện thông qua nhận thức, xúc cảm và hành động đối với bốn lĩnh vực: với trẻ em; với giá trị nghề; với hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ; với việc học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.
  2. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến thái độ với nghề của GVMN các tỉnh Tây Nguyên, bao gồm yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan, trong đó các yếu tố khách quan có ảnh hưởng mạnh hơn các yếu tố chủ quan.
  3. Có thể nâng cao thái độ với nghề cho GVMN các tỉnh Tây Nguyên theo hướng tích cực bằng các biện pháp tác động tâm lý - sư phạm, bao gồm việc mời chuyên gia nói chuyện chuyên đề và tổ chức cho giáo viên trải nghiệm cảm xúc qua xem băng hình, bình luận, đánh giá phản ứng xúc cảm và hành động trong các tình huống sư phạm cụ thể.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là biểu hiện thái độ với nghề của GVMN các tỉnh Tây Nguyên. Phạm vi nội dung nghiên cứu giới hạn ở việc xem xét biểu hiện thái độ qua bốn mặt: thái độ đối với trẻ; thái độ đối với giá trị nghề; thái độ đối với hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ; và thái độ đối với việc học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Phạm vi địa bàn khảo sát gồm 18 trường mầm non tại ba tỉnh Đắk Lắk, Đắk Nông và Gia Lai, được phân chia theo ba vùng kinh tế - xã hội: 6 trường thuộc vùng thuận lợi (vùng 1), 6 trường thuộc vùng khó khăn nhưng đã tạm thời ổn định (vùng 2), và 6 trường thuộc vùng đặc biệt khó khăn (vùng 3). Cụ thể: tỉnh Đắk Lắk gồm Thành phố Buôn Ma Thuột, huyện Krông Pắc, M'Đrắk, Cư Kuin; tỉnh Đắk Nông gồm Thị xã Gia Nghĩa, huyện Krông Nô, Cư Jút; tỉnh Gia Lai gồm Thành phố Pleiku, huyện Chư Sê, Chư Prông. Hoạt động thực nghiệm sư phạm được tiến hành tại các trường mầm non trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk. Tổng dung lượng mẫu khảo sát là 395 người, trong đó mẫu thăm dò gồm 30 người (28 GVMN, 2 cán bộ quản lý); mẫu điều tra chính thức gồm 347 GVMN và 18 cán bộ quản lý; mẫu phỏng vấn sâu gồm 30 người (10 GVMN, 10 cán bộ quản lý, 10 phụ huynh); mẫu thực nghiệm sư phạm gồm 36 GVMN thuộc nhóm thực nghiệm và 34 GVMN thuộc nhóm đối chứng.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng thuật hệ thống các công trình nghiên cứu về thái độ và thái độ nghề nghiệp trong tâm lý học thế giới và Việt Nam theo các nhóm nội dung:

Thứ nhất, các nghiên cứu thái độ như một chức năng tâm lý cá nhân và phạm trù chủ quan: Gordon Allport (1935) định nghĩa thái độ là trạng thái sẵn sàng về tâm lý và thần kinh, có ảnh hưởng định hướng hoặc động lực lên phản ứng của cá nhân. Stephen Worchel, Wayne Shebillsue và R. Feldman tiếp cận thái độ như sự cảm nhận tương đối ổn định được hình thành qua trải nghiệm và quan hệ xã hội. Gerrig và Philip G. Zimbardo nghiên cứu thái độ dưới góc độ đánh giá tích cực hoặc tiêu cực đối với con người, đối tượng hay ý tưởng. Nicky Hayes phân biệt thái độ với giá trị và hành vi. A. Lazuxki và V. Miaxisev xây dựng học thuyết thái độ nhân cách, phân loại thái độ thành dương tính và âm tính, hình thành qua cơ chế chuyển dịch từ ngoài vào trong. B. Lomov xem xét thái độ chủ quan trong hệ thống quan hệ xã hội, mang tính nhiều chiều và phản ánh lập trường cá nhân. D. Uznatze đề xuất thuyết tâm thế, coi tâm thế là trạng thái vô thức quy định tính tích cực có chọn lọc, làm cơ sở cho khái niệm tâm thế xã hội của V. Iadov.

Thứ hai, các nghiên cứu về chức năng của thái độ và mối quan hệ giữa thái độ với hành vi: W. Thomas và F. Znaniecki (1918) là những người đầu tiên sử dụng thuật ngữ thái độ khi nghiên cứu sự thích ứng của người nông dân Ba Lan di cư sang Mỹ. Daniel Katz (1960) xác lập bốn chức năng của thái độ: hiểu biết, điều chỉnh quan hệ xã hội, diễn đạt giá trị và bảo vệ cái tôi (ego-defense). Smith và cộng sự (1956), Adams, Niemi & Jennings, Hunter, Newcomb, Herek, Vorwerg và H. Fillmore tiếp tục phát triển các khía cạnh chức năng phòng vệ, vị lợi và duy trì lòng tự trọng. Về quan hệ thái độ - hành vi, Richard La Piere (1934) công bố phát hiện về "nghịch lý La Piere" chỉ ra sự không nhất quán giữa dữ liệu bảng hỏi và hành động thực tế. Ngược lại, Icek Ajzen và Martin Fishbein phát triển Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action - TRA) và chứng minh qua 26/27 thực nghiệm rằng thái độ có mức độ dự báo cao khi được đo lường cụ thể cho từng hành động nhất định, trái ngược với kết luận của A. Wicker (1969).

Thứ ba, các nghiên cứu về cấu trúc và đo lường thái độ: M. Smith (1942), Krech, Crutchfield & Ballachey (1960) đề xuất mô hình ba thành phần CEB/CAB gồm Nhận thức (Cognition), Xúc cảm - Tình cảm (Emotion/Affect) và Hành động (Behavior), được nhiều tác giả như Breckler, McGuire, Rosselli, Skelly & Mackie, Tesser & Martin, Petty, Wegener & Fabrigar thừa nhận. Về phương pháp đo lường, Bogardus (1925) đề xuất thang đo khoảng cách xã hội 7 mức độ; Thurstone và Chave (1929) xây dựng thang đo 11 bậc; Rensis Likert (1932) phát triển thang đo Likert; Edward Jones và Harold Sigall (1971) giới thiệu kỹ thuật "Đường ống giả vờ" (Bogus Pipeline); Petty và Fabrigar phát triển thang đo phân định thái độ nhận thức và thái độ cảm xúc qua nghiệm thể "máy hút bụi" và "con rắn".

Thứ tư, các nghiên cứu về thái độ với nghề: Chester Barnard (1938), Simson (1974), R. Likert, Turner Lawrence & Blood-Hulin, Allport & Vernon, Kluckhohn C. (1983) và Mortimer JT cùng cộng sự (1992) đã chứng minh nhận thức và sự thỏa mãn nghề nghiệp tỷ lệ thuận với hiệu suất lao động và hành vi nghề nghiệp. Tại Việt Nam, các tác giả Phạm Minh Hạc, Nguyễn Quang Uẩn, Trần Trọng Thủy, Võ Thị Minh Chí, Trần Hiệp, Lê Đức Phúc, Vũ Dũng, Lê Văn Hảo, Đào Thị Oanh nghiên cứu thái độ trong cấu trúc nhân cách và hành vi xã hội. Về thái độ nghề nghiệp, các công trình tiêu biểu gồm: Phạm Minh Hạc (nghiên cứu thái độ với công việc của lao động trẻ theo phương pháp NEO-PI-R cải biên), Lê Thị Thanh Hương (thái độ nghề nghiệp của trí thức), Trần Thị Thanh Hương (tính tích cực lao động của công chức), Nguyễn Thị Hoa (giá trị nghề nghiệp của cán bộ nghiên cứu), Bùi Thị Thanh Hà (thái độ lao động của công nhân xí nghiệp quốc doanh), Phan Ngọc Anh (thái độ nghề của học sinh học nghề), Phí Thị Nguyệt Thanh (học sinh, sinh viên điều dưỡng), Đoàn Văn Điều (sinh viên sư phạm đối với nghề dạy học), Nguyễn Thị Thúy Hường (sinh viên cao đẳng sư phạm đối với rèn luyện nghiệp vụ sư phạm), Cao Xuân Hải (thái độ hợp tác của cha mẹ học sinh) và Phạm Mạnh Hà.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định và lựa chọn giải quyết: Mặc dù các nghiên cứu trong và ngoài nước đã làm sáng tỏ nhiều khía cạnh lý luận về thái độ và thái độ nghề nghiệp của nhiều đối tượng, song tại Việt Nam chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên biệt về thái độ với nghề của giáo viên mầm non, đặc biệt là việc xây dựng tiêu chí đánh giá, khảo sát thực trạng và thực nghiệm biện pháp tác động trên địa bàn đặc thù như các tỉnh Tây Nguyên.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng cơ sở lý thuyết dựa trên các tiếp cận tâm lý học hoạt động, tiếp cận hệ thống và tiếp cận lịch sử cụ thể:

  • Khái niệm thái độ: Luận án xác định "Thái độ là sự sẵn sàng của chủ thể hướng đến đối tượng theo chiều hướng nhất định (tích cực hay tiêu cực) được thể hiện qua nhận thức, xúc cảm và hành động của chủ thể". Thái độ là hiện tượng tâm lý biểu hiện qua hai dấu hiệu đặc trưng: tính sẵn sàng (tâm thế hướng đến đối tượng) và chiều hướng (phân cực tích cực hoặc tiêu cực).
  • Khái niệm thái độ với nghề của GVMN: "Thái độ với nghề là sự sẵn sàng của người lao động hướng đến hoạt động nghề theo chiều hướng nhất định (tích cực hay tiêu cực), thông qua nhận thức, xúc cảm và hành động nghề". Đối với GVMN, thái độ với nghề được cụ thể hóa qua 4 lĩnh vực hoạt động:
    1. Thái độ đối với trẻ em.
    2. Thái độ đối với giá trị nghề.
    3. Thái độ đối với hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ.
    4. Thái độ đối với việc học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.
  • Cấu trúc biểu hiện của thái độ gồm 3 thành phần:
    • Mặt nhận thức: Sự hiểu biết, đánh giá về bản chất, ý nghĩa, giá trị xã hội và yêu cầu của nghề.
    • Mặt xúc cảm: Những rung động, tình cảm, sự hứng thú, say mê, yêu thương trẻ và gắn bó với nghề.
    • Mặt hành động: Hệ thống thao tác, hành vi thực tế trong công tác chăm sóc, giáo dục trẻ và tự bồi dưỡng chuyên môn.
  • Tiêu chí đánh giá thái độ với nghề của GVMN: Luận án sử dụng 2 tiêu chí cốt lõi là tính sẵn sàng và chiều hướng của thái độ (tích cực, trung bình, tiêu cực).
  • Các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ với nghề: Yếu tố chủ quan (xu hướng nghề nghiệp, ý thức trách nhiệm, trình độ chuyên môn, thâm niên công tác, tuổi đời...) và Yếu tố khách quan (môi trường làm việc, chế độ tiền lương đãi ngộ, sự đánh giá ghi nhận của nhà trường và phụ huynh, điều kiện kinh tế - xã hội vùng miền).

Về phương pháp nghiên cứu thực tế, luận án kết hợp các phương pháp định tính và định lượng:

  1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu văn bản: Phân tích, tổng hợp các công trình lý luận và văn bản chính sách liên quan đến giáo dục mầm non và tâm lý học thái độ.
  2. Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến các chuyên gia tâm lý học, giáo dục học để thẩm định khung lý luận, nội dung bảng hỏi và biện pháp thực nghiệm.
  3. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Sử dụng thang đo Likert để thu thập dữ liệu tự đánh giá của GVMN và đánh giá của cán bộ quản lý (CBQL) về các mặt nhận thức, xúc cảm, hành động trên 4 lĩnh vực nghề nghiệp và các yếu tố ảnh hưởng.
  4. Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn 30 khách thể (10 GVMN, 10 CBQL, 10 phụ huynh) nhằm làm rõ nguyên nhân của thực trạng.
  5. Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Thiết kế nhóm thực nghiệm (TN = 36) và nhóm đối chứng (ĐC = 34) tại Đắk Lắk; áp dụng tác động tâm lý - sư phạm (mời chuyên gia báo cáo chuyên đề và tổ chức xem băng hình, phân tích tình huống thực tế) để kiểm chứng sự chuyển biến thái độ trước và sau tác động.
  6. Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học: Sử dụng phần mềm thống kê để tính Điểm trung bình (ĐTB), Độ lệch chuẩn (ĐLC), kiểm định độ tin cậy của thang đo, phân tích tương quan giữa nhận thức - xúc cảm - hành động, và kiểm định sự khác biệt giữa các nhóm khách thể.

Bảng tổng hợp quy mô và cơ cấu mẫu nghiên cứu của luận án:

STT Nhóm khách thể / Phương pháp Quy mô mẫu (người) Địa bàn / Thành phần chi tiết
1 Khảo sát thăm dò (thử nghiệm công cụ) 30 28 GVMN và 2 CBQL tại Đắk Lắk
2 Khảo sát thực trạng chính thức 365 347 GVMN và 18 CBQL tại 18 trường mầm non (Đắk Lắk, Đắk Nông, Gia Lai)
3 Phỏng vấn sâu định tính 30 10 GVMN, 10 CBQL, 10 phụ huynh học sinh
4 Thực nghiệm sư phạm: Nhóm thực nghiệm (TN) 36 GVMN tại các trường mầm non tỉnh Đắk Lắk
5 Thực nghiệm sư phạm: Nhóm đối chứng (ĐC) 34 GVMN tại các trường mầm non tỉnh Đắk Lắk

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về thái độ với nghề của giáo viên mầm non

Chương 1 hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu thái độ trong tâm lý học thế giới từ đầu thế kỷ XX đến nay, phân tích các hướng tiếp cận chính: thái độ như một chức năng tâm lý cá nhân (Allport, Lazuxki, Miaxisev, Lomov, Uznatze), các lý thuyết chức năng của thái độ (Thomas & Znaniecki, Katz, Smith), mối quan hệ giữa thái độ và hành vi (nghịch lý La Piere, Thuyết hành động hợp lý TRA của Fishbein & Ajzen, quan điểm của Wicker), cấu trúc ba thành phần của thái độ (Smith, Krech & Crutchfield) và các phương pháp đo lường thái độ (Bogardus, Thurstone, Likert, Jones & Sigall, Petty & Fabrigar). Đồng thời, chương này tổng thuật các nghiên cứu về thái độ với nghề của người lao động và giáo viên trong nước (Phạm Minh Hạc, Lê Thị Thanh Hương, Trần Thị Thanh Hương, Nguyễn Thị Hoa, Bùi Thị Thanh Hà, Phan Ngọc Anh, Phí Thị Nguyệt Thanh, Đoàn Văn Điều, Nguyễn Thị Thúy Hường, Cao Xuân Hải), từ đó xác định khoảng trống nghiên cứu về thái độ với nghề của GVMN tại Việt Nam.

Chương 2: Cơ sở lý luận về thái độ với nghề của giáo viên mầm non

Chương 2 tập trung xây dựng hệ thống khái niệm công cụ phục vụ nghiên cứu. Tác giả phân tích khái niệm nghề, chuyên môn, đặc thù nghề GVMN và đưa ra định nghĩa về thái độ với nghề của GVMN. Luận án xác lập cấu trúc thái độ gồm 3 thành phần (nhận thức, xúc cảm, hành động) thể hiện qua 4 lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp (đối với trẻ em; đối với giá trị nghề; đối với hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ; đối với việc học tập bồi dưỡng chuyên môn). Chương này xác định 2 tiêu chí đánh giá gồm tính sẵn sàng và chiều hướng thái độ; đồng thời phân tích có hệ thống các nhóm yếu tố ảnh hưởng chủ quan (xu hướng, trách nhiệm, năng lực chuyên môn, thâm niên, độ tuổi) và khách quan (môi trường sư phạm, chế độ chính sách, thu nhập, sự tôn vinh xã hội, đặc điểm kinh tế - xã hội địa phương).

Chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu

Chương 3 trình bày chi tiết quy trình tổ chức nghiên cứu gồm các giai đoạn chuẩn bị, thăm dò, khảo sát chính thức và thực nghiệm sư phạm. Tác giả mô tả địa bàn nghiên cứu tại 18 trường mầm non thuộc 3 tỉnh Đắk Lắk, Đắk Nông, Gia Lai đại diện cho 3 vùng kinh tế - xã hội (thuận lợi, khó khăn tạm ổn định, đặc biệt khó khăn). Chương này trình bày chi tiết hệ thống công cụ khảo sát bảng hỏi, kiểm định độ tin cậy của thang đo, phương pháp phỏng vấn sâu, thiết kế quy trình thực nghiệm sư phạm (tác động lên 36 GVMN nhóm TN và so sánh với 34 GVMN nhóm ĐC), cùng các công thức và kỹ thuật thống kê toán học dùng để xử lý dữ liệu.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực tiễn về thái độ với nghề của giáo viên mầm non các tỉnh Tây Nguyên

Chương 4 công bố và phân tích các kết quả khảo sát thực trạng:

  • Đánh giá chung: Đa số GVMN các tỉnh Tây Nguyên có thái độ với nghề ở mức trung bình và khá; có sự tương đồng và khác biệt nhất định giữa kết quả tự đánh giá của GV và đánh giá của CBQL.
  • Phân tích theo các biến nhân khẩu học: Mức độ biểu hiện thái độ với nghề có sự khác biệt rõ rệt khi xem xét theo thâm niên công tác, trình độ chuyên môn (Trung cấp, Cao đẳng, Đại học), thành tích thi đua, thành phần dân tộc (Kinh và các dân tộc thiểu số tại chỗ) và địa bàn công tác (vùng 1, vùng 2, vùng 3).
  • Phân tích các mặt biểu hiện: Làm rõ mức độ nhận thức, mức độ xúc cảm và hành động thực tế của GVMN đối với 4 lĩnh vực nghề nghiệp; phân tích mối tương quan tuyến tính giữa nhận thức, cảm xúc và hành động trong cấu trúc thái độ.
  • Đánh giá yếu tố ảnh hưởng: Xác định mức độ tác động của các yếu tố chủ quan và khách quan, khẳng định các yếu tố khách quan (điều kiện cơ sở vật chất, thu nhập, áp lực công việc, đặc điểm vùng miền) có ảnh hưởng mạnh mẽ đến thái độ của giáo viên.
  • Kết quả thực nghiệm tác động: So sánh điểm số nhận thức và thái độ chung của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng trước và sau tác động cho thấy nhóm thực nghiệm có sự cải thiện rõ rệt về nhận thức giá trị nghề, khả năng làm chủ cảm xúc và hành vi ứng xử sư phạm tích cực với trẻ.

Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới về mặt lý luận:

  • Luận án đã làm sáng tỏ và bổ sung lý luận về thái độ nghề nghiệp trong Tâm lý học Sư phạm và Tâm lý học Xã hội thông qua việc xây dựng khái niệm thái độ với nghề của GVMN.
  • Thao tác hóa khái niệm thái độ với nghề của GVMN thành các chỉ báo đo lường cụ thể dựa trên cấu trúc 3 thành phần (nhận thức, xúc cảm, hành động) gắn liền với 4 lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp đặc thù của bậc học mầm non.
  • Xác lập 2 tiêu chí cốt lõi để đánh giá thái độ với nghề của GVMN: tính sẵn sàng và chiều hướng thái độ.

Những đóng góp mới về mặt thực tiễn:

  • Xây dựng bộ công cụ điều tra, thang đo đánh giá thái độ với nghề của GVMN đảm bảo độ tin cậy và giá trị khoa học.
  • Cung cấp bức tranh thực trạng khách quan về thái độ với nghề của GVMN tại 3 tỉnh Tây Nguyên (Đắk Lắk, Đắk Nông, Gia Lai); chỉ ra các khác biệt theo thâm niên, trình độ, dân tộc và địa bàn công tác, đồng thời xác định mức độ tác động của các yếu tố khách quan và chủ quan.
  • Đề xuất và kiểm chứng tính hiệu quả của hệ thống biện pháp tác động tâm lý - sư phạm (kết hợp bồi dưỡng chuyên đề của chuyên gia với hoạt động trải nghiệm phân tích tình huống qua video) nhằm chuyển biến thái độ của GVMN theo hướng tích cực.

Các khuyến nghị và giải pháp đề xuất từ luận án:

  • Đối với các cơ quan quản lý giáo dục: Hoàn thiện chính sách tiền lương, chế độ phụ cấp thu hút cho GVMN công tác tại vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên; đầu tư cơ sở vật chất, giảm tải áp lực hồ sơ sổ sách và thời gian lao động kéo dài.
  • Đối với các cơ sở đào tạo giáo viên mầm non: Đổi mới nội dung chương trình đào tạo, chú trọng rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, lòng yêu nghề mến trẻ và kỹ năng quản lý cảm xúc cho sinh viên sư phạm mầm non.
  • Đối với các trường mầm non và cán bộ quản lý: Xây dựng môi trường sư phạm dân chủ, thân thiện, ghi nhận và động viên kịp thời nỗ lực của giáo viên; định kỳ tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên đề, tư vấn tâm lý và tập huấn xử lý tình huống sư phạm.
  • Đối với bản thân giáo viên mầm non: Nâng cao ý thức tự giác, chủ động học tập nâng cao trình độ, tự điều chỉnh nhận thức, cảm xúc và hành vi phù hợp với chuẩn mực nghề nghiệp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Phạm vi khảo sát thực tế mới triển khai tại 18 trường mầm non thuộc 3 tỉnh (Đắk Lắk, Đắk Nông, Gia Lai) trên tổng số 5 tỉnh của khu vực Tây Nguyên.
  • Mẫu thực nghiệm sư phạm mới được tiến hành trên phạm vi một tỉnh (Đắk Lắk) với quy mô 36 giáo viên nhóm thực nghiệm và 34 giáo viên nhóm đối chứng trong một khoảng thời gian nhất định.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng phạm vi khảo sát thực trạng ra toàn bộ 5 tỉnh Tây Nguyên (bổ sung Lâm Đồng và Kon Tum) để có dữ liệu bao quát toàn diện hơn cho toàn vùng.
  • Triển khai ứng dụng các biện pháp tác động tâm lý - sư phạm trên quy mô rộng hơn tại nhiều địa phương và theo dõi tác động dài hạn đối với sự phát triển nghề nghiệp của giáo viên.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Tâm lý học, Giáo dục học, Quản lý giáo dục: Cung cấp khung lý luận, hệ thống chỉ báo và phương pháp luận nghiên cứu thực nghiệm về thái độ nghề nghiệp.
  • Cán bộ quản lý giáo dục tại Sở/Phòng Giáo dục và Đào tạo, Ban Giám hiệu các trường mầm non: Sử dụng bộ tiêu chí và thang đo để đánh giá thực trạng đội ngũ, từ đó xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn và chế độ hỗ trợ phù hợp cho GVMN, đặc biệt tại các vùng khó khăn.
  • Các trường đại học, cao đẳng đào tạo sư phạm mầm non: Tham khảo để điều chỉnh chương trình đào tạo, tích hợp các nội dung giáo dục thái độ nghề nghiệp và kỹ năng ứng phó áp lực sư phạm cho sinh viên trước khi ra trường.

Câu hỏi thường gặp

  1. Thái độ với nghề của giáo viên mầm non được luận án định nghĩa như thế nào? Luận án định nghĩa: Thái độ với nghề của GVMN là sự sẵn sàng của người lao động hướng đến hoạt động nghề theo chiều hướng nhất định (tích cực hay tiêu cực), thông qua nhận thức, xúc cảm và hành động nghề.

  2. Cấu trúc biểu hiện thái độ với nghề của GVMN gồm những thành phần và lĩnh vực nào? Thái độ với nghề của GVMN biểu hiện qua 3 thành phần tâm lý: nhận thức, xúc cảm và hành động. Ba thành phần này được xem xét trên 4 lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp cụ thể: đối với trẻ em; đối với giá trị nghề; đối với hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ; và đối với việc học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ.

  3. Địa bàn và khách thể khảo sát thực trạng của luận án được phân bố như thế nào? Khảo sát thực trạng được tiến hành tại 18 trường mầm non thuộc 3 tỉnh Đắk Lắk (TP. Buôn Ma Thuột, H. Krông Pắc, M'Đrắk, Cư Kuin), Đắk Nông (TX. Gia Nghĩa, H. Krông Nô, Cư Jút) và Gia Lai (TP. Pleiku, H. Chư Sê, Chư Prông). Khách thể khảo sát chính thức gồm 347 GVMN và 18 cán bộ quản lý, đại diện cho 3 vùng kinh tế - xã hội (vùng thuận lợi, vùng khó khăn tạm thời ổn định, vùng đặc biệt khó khăn).

  4. Luận án sử dụng những tiêu chí nào để đo lường và đánh giá thái độ với nghề của GVMN? Luận án xác định 2 tiêu chí đánh giá cốt lõi:

  • Tính sẵn sàng của thái độ: Biểu hiện mức độ tâm thế hướng đến đối tượng hoạt động nghề nghiệp của chủ thể.
  • Chiều hướng thái độ: Phản ánh tính phân cực trong nhìn nhận, xúc cảm và thao tác hành vi của cá nhân theo hướng tích cực, trung bình hoặc tiêu cực.
  1. Những biện pháp tác động tâm lý - sư phạm nào đã được luận án thực nghiệm để nâng cao thái độ với nghề cho GVMN? Luận án thiết kế hai nhóm biện pháp tác động:
  • Mời chuyên gia nói chuyện chuyên đề về đặc điểm tâm sinh lý trẻ mầm non, giá trị xã hội của nghề, phương pháp tổ chức chăm sóc giáo dục trẻ và phương thức tự bồi dưỡng chuyên môn.
  • Tổ chức cho giáo viên trải nghiệm cảm xúc thông qua việc xem băng hình thực tế về trẻ em, thảo luận, bình luận và đánh giá các phản ứng cảm xúc, hành vi ứng xử sư phạm trong các tình huống cụ thể.

Kết luận

Luận án "Thái độ với nghề của giáo viên mầm non các tỉnh Tây Nguyên" của tác giả Vũ Thị Thanh Hiển là công trình nghiên cứu chuyên khảo thuộc chuyên ngành Tâm lý học, đã xây dựng hoàn chỉnh khung lý luận và bộ công cụ đo lường thái độ nghề nghiệp đặc thù của bậc học mầm non. Kết quả nghiên cứu thực tiễn trên 395 khách thể tại 18 trường mầm non thuộc Đắk Lắk, Đắk Nông và Gia Lai đã phản ánh khách quan thực trạng thái độ của giáo viên cũng như vai trò chi phối của các yếu tố khách quan và chủ quan tại địa bàn Tây Nguyên. Thông qua thực nghiệm sư phạm, luận án đã chứng minh tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp tác động tâm lý - sư phạm trong việc nâng cao nhận thức, xúc cảm và hành vi nghề nghiệp tích cực cho đội ngũ giáo viên mầm non.