CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. Các khái niệm có liên quan 1. Khái niệm nhân lực Từ những góc độ, quan điểm khác nhau mà có rất nhiều khái niệm về nhân lực. Tiêu biểu như các quan điểm khái niệm sau: Theo Mai Thanh Lan và Nguyễn Thị Minh Nhàn (2016), nhân lực được hiểu là sức lực của con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động.
Sức lực đó ngày càng phát triển với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó con người sẽ đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động, con người có sức lao động. Theo đó, nhân lực bao gồm tất cả các tiềm năng của con người trong tổ chức (kể cả thành viên trong ban lãnh đạo doanh nghiệp) tức là tất cả các thành viên trong doanh nghiệp sử dụng khả năng, kiến thức, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển doanh nghiệp đó. Nhân lực là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này có trí lực và thể lực được sử dụng trong quan hệ sản xuất kinh doanh đáp ứng nhu cầu của cuộc sống con người, đồng thời phục vụ mục tiêu phát triển cộng đồng. Nhân lực cấu thành từ hai yếu tố chính là số lượng nhân lực và chất lượng nhân lực.
Số lượng biểu hiện qua các quy mô, chỉ tiêu tốc độ phát triển và cơ cấu. Chất lượng nhân lực được xem xét trên các mặt thể lực và trí lực. Trong đó thể lực phụ thuộc vào tình trạng sức khoẻ, chế độ làm việc, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, nghỉ ngơi, y tế, giới tính, tuổi tác, thời gian công tác, còn trí lực bao gồm năng khiếu, tài năng cũng như nhân cách, lòng tin, quan điểm trong mỗi một con người. Chính vì vậy, nhân lực tác động rất lớn đến trình độ quản lý và trình độ sử dụng các yếu tố kinh doanh, đồng thời cũng là yếu tố năng động, tích cực của quá trình sản xuất kinh doanh.
Có thể hiểu nhân lực là toàn bộ NLĐ làm việc và được trả công từ đơn vị thuê người lao động. Khi đó, nhân lực của doanh nghiệp bao gồm tất cả những NLĐ ở 13 các vị trí khác nhau như lao động trực tiếp, lao động gián tiếp, nhân lực quản lý và nhân lực thừa hành. Xét ở góc độ cá nhân, nhân lực gồm thể lực,trí lực và tâm lực của mỗi NLĐ trong tổ chức doanh nghiệp. Xét ở góc độ tổ chức, nhân lực gồm nguồn lực của tất cả những NLĐ đó và sự phối hợp giữa họ.
Hay nói cách khác, nhân lực của doanh nghiệp tổ chức được xem xét đầy đủ trên các khía cạnh số lượng nhân lực, chất lượng nhân lực và cơ cấu nhân lực. Khái niệm tạo động lực làm việc cho người lao động Các nhà quản lý muốn tăng năng suất, hiệu quả trong công việc và xây dựng tổ chức vững mạnh thì khi giao cho NLĐ thực hiện công việc gì, thì nhà quản lý phải khiến cho cá nhân làm việc một cách tự nguyện, tránh trường hợp cưỡng chế ảnh hưởng đến cá nhân người lao động và hiệu quả công việc toàn tổ chức. Sự thôi thúc, ham muốn làm việc của NLĐ hình thành nên động lực làm việc hay động lực lao động, còn việc tạo ra sự thôi thúc và ham muốn ở một mức độ nhất định có thể hiểu là việc tạo động lực làm việc cho NLĐ. Theo Lê Thanh Hà (2009), “Tạo động lực cho NLĐ là hệ thống các biện pháp, chính sách, cách ứng xử của doanh nghiệp tác động đến NLĐ nhằm làm cho NLĐ hài lòng hơn với công việc để đạt được các mục tiêu của bản thân và doanh nghiệp” Theo tiến sĩ Bùi Anh Tuấn - Phạm Thúy Hương (2013), “Tạo động lực lao động là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến NLĐ nhằm làm cho NLĐ có động lực trong làm việc" Theo Mai Thanh Lan và Nguyễn Thị Minh Nhàn (2016), "Tạo động lực làm việc là quá trình xây dựng, triển khai thực hiện và đánh giá các chương trình, biện pháp tác động vào những mong muốn, khát khao của NLĐ nhằm thúc đẩy họ làm việc để đạt được các mục tiêu của cá nhân và tổ chức, doanh nghiệp" Khái niệm về động lực: Là thuật ngữ chung áp dụng cho toàn bộ các xu hướng, ước mơ, nguyện vọng và những thôi thúc tương tự thúc đẩy nhân viên hành động theo một cách mong muốn (Harold Koontz, Cyril Odonnell, Heinzw 14 Weihrich, những vấn đề cốt yếu của Quản lý, 1988).
Tạo đông lực là quá trình mà nhà quản trị tìm ra yếu tố thúc đẩy người lao động tại những thời điểm khác nhau (động lực); lựa chọn và sử dụng các chính sách phù hợp tác động vào những yếu tố thúc đẩy đó của người lao động từ đó kích thích người lao động nổ lực, đóng góp hết mình vào việc hoàn thành mục tiêu của tổ chức. Cụ thể, việc tạo động lực LĐ là tổng hợp các biện pháp quản trị nhằm tạo ra các động lực vật chất thù lao LĐ và tinh thần cho NLĐ. Các nhà quản trị cần tìm ra và áp dụng những biện pháp hay chính sách thích hợp tăng cường động lực làm việc, khi NLĐ có động lực cao sẽ làm việc với hiệu suất cao, làm việc tối đa khả năng và công sức mà không cần đến những biện pháp hay cách thức mang tính chất ép buộc cứng nhắc. Khi đó, thái độ, tinh thần làm việc hăng say của NLĐ sẽ góp phần gia tăng năng suất, tăng cường tính sáng tạo thậm chí tạo ra những đột phá tích cực cho tổ chức và doanh nghiệp.
Với cách hiểu này, tạo động lực làm việc hay động lực LĐ chủ yếu thuộc về sự chủ động của DN và tổ chức, động lực LĐ được xem như đầu ra của một quá trình tạo động lực LĐ theo hình vẽ dưới đây: Xác định nhu cầu trong Tổ chức thực hiện tạo Đánh giá tạo động lực tạo động lực làm việc động lực làm việc cho làm việc cho người cho người lao động người lao động lao động Hình 1. Tạo động lực làm việc cho người lao động Đầu vào mỗi DN sử dụng là khác nhau, cách thức DN đó sử dụng và kết hợp chúng cũng khác nhau, theo đó mỗi DN sẽ có những phương thức và giải pháp không giống nhau nhằm tạo động lực cho NLĐ, từ đó tạo ra động lực LĐ cho nhân viên trong DN, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động và khả năng cạnh tranh cho DN của mình. Tóm lại, theo luận văn này, tác giả tiếp cận khái niệm tạo động lực lao động là quá trình thúc đẩy, khuyến khích nảy sinh động lực lao động trong NLĐ, có thể hiểu tạo động lực LĐ là sự vận dụng kết hợp các biện pháp, các chính sách và công 15 cụ quản lý phù hợp tác động đến NLĐ nhằm làm cho họ có động lực khi làm việc, thúc đẩy cho NLĐ hài lòng với công việc, mong muốn làm việc và nỗ lực làm việc hơn để đóng góp cho DN. Nội dung của tạo động lực làm việc cho người lao động 1.
Xác định nhu cầu trong tạo động lực làm việc cho người lao động Mục đích xác định nhu cầu của NLĐ là làm rõ những nhu cầu nào của NLĐ đã được thỏa mãn, đang được thỏa mãn và chưa được thỏa mãn tương ứng với các vị trí công việc ở các bộ phận khác nhau. Qua đó, các nhà quản trị đưa ra định hướng và giải pháp tạo động lực cho NLĐ thông qua quá trình từng bước thỏa mãn tốt hơn nhu cầu của NLĐ. Nội dung công việc này cần được tiến hành thường xuyên, vì các nhu cầu của người LĐ cũng thường xuyên thay đổi, do đó các nhà quản lý DN cần kịp thời nắm bắt để có các quyết định điều chỉnh nằm tạo động lực làm việc cho NLĐ phù hợp và hiệu quả. Khi xác định nhu cầu của NLĐ cần làm rõ căn cứ xác định và các phương pháp xác định.
● Căn cứ xác định nhu cầu của người lao động Các căn cứ xác định nhu cầu của người lao động: Theo Maslow (1908-1970) có 05 nhóm nhu cầu: Nhu cầu sinh lý, nhu cầu an toàn, nhu cầu được công nhận, nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu được tự khẳng định mình. Vận dụng 05 nhu cầu của con người này để xác định nhu cầu của người lao động. Ngoài ra, các căn cứ khác như: - Năng lực chuyên môn của người lao động: Được phân thành nhân sự có chuyên môn cao và nhân sự có chuyên môn trung bình thấp. Người lao động là nhân sự có năng lực chuyên môn cao thì thường có nhu cầu thăng tiến, mong muốn được đào tạo để nâng cao trình độ, thể hiện bản thân.
Nếu người lao động có năng lực chuyên môn trung bình thấp thì chỉ quan tâm đến các loại thu nhập nhận được sau khi đã làm việc chăm chỉ. - Thái độ của người lao động: Thể hiện sự tự giác tập trung vào thực hiện các công việc, mệnh lệnh được cấp trên giao. Sự chủ động trong thực hiện công việc, trung thực, không che dấu những thông tin, tôn trọng hỗ trợ đồng nghiệp, nâng cao 16 tinh thần hợp tác với đồng nghiệp trong công việc; nỗ lực bản thân trong khả năng học hỏi và phát triển. Tuân thủ các quy định của cấp trên, tôn trọng mệnh lệnh của ban lãnh đạo về quy định tại nơi làm việc, quy định về đạo đức nghề nghiệp.
Tóm lại, thái độ của người lao động thể hiện ở việc người lao động có làm việc hăng say và có trách nhiệm với công việc được giao hay không. Thái độ làm việc là một trong những nhân tố quyết định đến hiệu quả công việc. - Các yếu tố khác như giới tính, độ tuổi, hoàn cảnh gia đình của người lao động. Các yếu tố này đôi khi là những yếu tố giúp xác định rất rõ những nhu cầu của người lao động.
Ví dụ: ở độ tuổi trung niên người lao động thường ít có nhu cầu tham các hoạt động hướng ngoại như thăm quan, dã ngoại, hay thi đấu thể thao. Nhân sự trẻ có khuynh hướng hướng ngoại, năng động, ham học hỏi khám phá, phù hợp với công việc yêu cầu tính năng động, linh hoạt cao. Nhân sự có hoàn cảnh gia đình kém may mắn hớn thường có mong muốn được doanh nghiệp hỗ trợ, tạo động lực về tinh thần và vật chất. - Tính cách của người lao động: có rất nhiều cách thức để phân loại tính cách người lao.