Chương 1: Cơ sở xây dựng đề án Chương 2: Thực trạng và giải pháp tạo động lực làm việc cho người lao động tại Trung tâm Viễn thông Quốc tế MobiFone. Chương 3: Các đề xuất và kiến nghị 5 PHẦN 1: CƠ SỞ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN 1. Cơ sở lý luận về tạo động lực làm việc cho người lao động 1. Một số khái niệm cơ bản 1.
Động lực làm việc Trường Đại học Thương mại (2016, 232) định nghĩa: “Động lực làm việc là những mong muốn, khao khát của người lao động được kích thích để họ nỗ lực hoạt động nhằm đạt được những mục tiêu nhất định của cá nhân và tổ chức”. Khái niệm cho thấy: Thứ nhất, tổ chức và động làm việc luôn gắn liền với nhau. Tổ chức sẽ giao những công việc nhất định cho người lao động. Người lao động hoàn toàn có thể hoàn thành công việc mà không cần động lực nhưng chất lượng công việc sẽ được nâng cao nếu người lao động khao khát, tự nguyện và mong muốn làm công việc đó.
Thứ hai, người lao động luôn có những mục tiết nhất định khi làm việc cho các tổ chức. Doanh nghiệp cần định hướng mục tiêu, lợi ích của người lao động theo định hướng mục tiêu của tổ chức. Vấn đề là doanh nghiệp phải cho người lao động thấy rõ được lợi ích cá nhân của họ thì họ mới tự nguyện theo phướng hướng của tổ chức đề ra. Thứ ba, động lực làm việc không giống với động cơ cá nhân.
Hai nội dung này rất dễ bị nhầm lẫn đối với các nhà quản trị cũng như các nghiên cứu. Sự nhầm lẫn này có thể dẫn các nhà lãnh đạo đi sai hướng khi tìm kiếm các giải pháp trong quản trị doanh nghiệp của mình. Tạo động lực làm việc Trường Đại học Thương mại (2016, 234) định nghĩa: “Tạo động lực làm việc là triển khai thực hiện và đánh giá các chương trình, biện pháp tác động vào những mong muốn, khát khao của người lao động nhằm thúc đẩy họ làm việc để đạt được các mục tiêu của cá nhân và tổ chức, doanh nghiệp”. Qua khái niệm trên có thể thấy: Một là, các bước cơ bản của tạo động lực làm việc cho người lao động trong tổ chức, doanh nghiệp bao gồm: triển khai thực hiện các chương trình tạo động lực 6 và đánh giá kết quả tạo động lực nhằm tạo ra, duy trì và phát huy động lực của người lao động.
Doanh nghiệp cần khảo sát, xác định nhu cầu của người lao động, đánh giá khả năng, mức độ đáp ứng các nhu cầu đó của doanh nghiệp rồi từ đó xây dựng các chính sách tạo động lực hiệu quả, phù hợp nhằm hài hòa mục tiêu của cá nhân và định hướng của tổ chức. Hai là, mỗi nhóm lao động sẽ có động lực khác nhau nên biện pháp tạo động lực cho mỗi nhóm cũng khác nhau. Nếu lao động mong muốn đi làm chỉ vì muốn có kinh phí để trang trải cuộc sống thì biện pháp tạo động lực sẽ tương ứng với nhóm biện pháp tài chính như chính sách tiền lương, thưởng và phúc lợi. Còn nếu lao động mong muốn được phát triển bản thân, được bổ nhiệm được các vị trí cao thì tổ chức cần thực hiện nhóm biện pháp phi tài chính như cơ hội học tập, thăng tiến trong công việc… Thứ ba, để tạo động lực làm việc cho người lao động, các nhà quản lý cần khích lệ, động viên họ tự nguyện, mong muốn làm việc chứ không phải là thúc ép, đe dọa người lao động.
Một số biện pháp tạo động lực làm việc Trường Đại học Thương mại (2016, 258) đã đề cập đến việc lựa chọn các biện pháp tạo động lực cho người lao động, trong đó hai biện pháp nổi bật là biện pháp tài chính và biện pháp phi tài chính. Biện pháp tài chính Tiền lương: Bản chất của tiền lương, tiền công là giá cả sức lao động, nó là biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động. Trong nền kinh tế thị trường như hiện nay tiền lương, tiền công còn phụ thuộc vào trạng thái cung cầu lao động trên thị trường. Nếu cung lớn hơn cầu thì giá cả sức lao động thấp, ngược lại nếu cung nhỏ hơn cầu thì giá cả sức lao động cao hơn.
Tiền công, tiền lương trở thành động lực khi nó đáp ứng đủ nhu cầu vật chất cho người lao động, tạo cho họ sự yên tâm về khoản thu nhập của mình, việc chi trả lương cũng phải đảm bảo tuân thủ đúng nguyên tắc trong chi trả tiền lương: Đảm bảo nguyên tắc trả lương ngang nhau cho những lao động như nhau. Đảm bảo nguyên tắc tốc độ tăng năng suất lao động nhanh hơn tốc độ tăng tiền lương. 7 Đảm bảo mối quan hệ hợp lý về tiền lương giữa những người lao động khác nhau trong nền kinh tế. Khi mức sống của người lao động còn thấp thì việc nâng cao vai trò của tiền lương sẽ đáp ứng đúng nhu cầu thiết yếu nhất đối với người lao động, đó là nhu cầu vật chất.
Tiền thưởng: Đây là những khoản tiền mà doanh nghiệp trả cho người lao động do họ có những thành tích và đóng góp vượt trên mức độ mà chức trách quy định. Tiền thưởng cùng với tiền lương tạo nên khoản thu nhập bằng tiền chủ yếu của người lao động. Vì vậy, tiền thưởng cũng góp phần giúp người lao động có thể thoả mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần của bản thân và gia đình ở mức độ cao hơn. Từ đó có thể thấy, tiền thưởng là một trong những biện pháp tạo động lực có hiệu quả nhất đối với người lao động, nhất là những người còn tiềm ẩn nhiều năng lực làm việc.
Tiền thưởng có nhiều loại, bao gồm: Thưởng năng suất, chất lượng tốt; Thưởng do tiết kiệm vật tư, nguyên liệu; Thưởng do sáng kiến, cải tiến kỹ thuật; Thưởng theo kết quả hoạt động kinh doanh; Thưởng do hoàn thành tiến độ sớm so với quy định… Hiện nay, các tổ chức/doanh nghiệp còn áp dụng những chương trình cá biệt hóa tiền thưởng để tạo động lực cho những đối tượng lao động có năng lực và đang khan hiếm trên thị trường. Tiền thưởng có thể được trả theo định kỳ hoặc đột xuất. Phúc lợi: được cung cấp cho người lao động để họ có thêm động lực làm việc, để họ có điều kiện nâng cao chất lượng cuộc sống và sinh hoạt của gia đình. Phúc lợi có hai phần chính: phúc lợi theo quy định của pháp luật và phúc lợi do các doanh nghiệp tự nguyện áp dụng.
Phúc lợi theo quy định của pháp luật do Nhà nước quy định nhằm đảm bảo quyền lợi cho người lao động ở mức độ tối thiểu do họ ở vào thế yếu hơn so với người sử dụng lao động. Tuỳ theo đặc điểm của mỗi quốc gia mà những phúc lợi này được quy định trong luật hay các văn bản dưới luật. Phúc lợi tự nguyện được các doanh nghiệp áp dụng nhằm kích thích nhân viên gắn bó với doanh nghiệp cũng như thu hút những người có tài năng về làm việc. Phúc lợi tự nguyện phụ thuộc nhiều vào khả năng tài chính của doanh nghiệp, nó bao gồm: Bảo hiểm y tế (ngoài bảo hiểm y tế bắt buộc theo quy định của pháp luật).
8 Chương trình bảo vệ sức khoẻ. Bảo hiểm nhân thọ theo nhóm. Các loại dịch vụ như: xe đưa đón đi làm, phòng tập thể dục, thể thao, bãi đỗ xe, đảm bảo chăm sóc trẻ em. Phúc lợi có tác dụng hậu thuẫn, phát huy công năng, kích thích tiềm năng, có ảnh hưởng trực tiếp tới phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp.
Do đó, khi thực hiện tạo động lực thông qua phúc lợi, các nhà quản trị cần chú ý hai vấn đề: (i) cần căn cứ vào khả năng tài chính của doanh nghiệp để định ra phúc lợi; (ii) không chạy theo doanh nghiệp khác. Tạo động lực thông qua các biện pháp phi tài chính Xây dựng hệ thống đánh giá công việc phù hợp cho người lao động: Công việc phù hợp với trình độ chuyên môn, tay nghề và kinh nghiệm của người lao động: Nếu người lao động được phân công thực hiện một công việc quan trọng, phù hợp với trình độ chuyên môn, tay nghề, phẩm chất cá nhân và sở thích của họ sẽ làm cho họ có được những hứng thú trong công việc, có trách nhiệm đối với kết quả công việc. Mặt khác, nếu họ được giao cho những công việc quan trọng hơn, đòi hỏi trình độ chuyên môn cao hơn, đòi hỏi nhiều kinh nghiệm hơn, lương thưởng cao hơn. so với công việc họ đang làm, hay một công việc mà hàm chứa nhiều cơ hội thăng tiến sẽ làm cho người lao động cảm thấy hài lòng và thoả mãn, các nhu cầu cơ bản không những được đáp ứng tốt hơn mà các nhu cầu cấp cao (nhu cầu được thể hiện, được kính trọng.) cũng được thoả mãn đầy đủ.
Khi đó, người lao động sẽ cảm thấy gắn bó và có trách nhiệm hơn trong thực hiện công việc. Nói cách khác, họ sẽ làm việc tự nguyện, nhiệt tình và mang lại năng suất, chất lượng, hiệu quả công việc cao hơn. Phân công công việc công bằng, rõ ràng: Muốn làm được điều này, tổ chức/doanh nghiệp cần xây dựng hệ thống bản tiêu chuẩn công việc và bản mô tả công việc rõ ràng, bài bản; hệ thống đánh giá thành tích phải được đánh giá theo các tiêu chuẩn rõ ràng, mang tính thực tiễn. Làm phong phú công việc/Mở rộng công việc: Làm phong phú công việc nhằm gia tăng sự thách thức, nâng cao sự đa dạng và tạo thành tựu lớn hơn trong công việc.
9 Mở rộng công việc có nghĩa là công việc cần phải được thay đổi và làm cho thú vị hơn bằng cách loại trừ những sự nhàm chán hay khi phải thực hiện những công việc lặp đi lặp lại. Làm phong phú công việc/Mở rộng công việc giúp người lao động có nhiều tự do hơn trong việc lựa chọn phương pháp làm việc, trình tự thực hiện công việc và nhịp độ tiến hành công việc, khuyến khích người lao động giao lưu, tiếp xúc qua lại với nhau. Từ đó, người lao động có thể nhận thấy vai trò của họ trong công việc và công việc của họ phù hợp, hài hòa với mục tiêu của tổ chức, doanh nghiệp. Sự luân chuyển công việc: Được thực hiện bằng cách di chuyển một cách có hệ thống nhân viên từ công việc này sang công việc khác, do đó làm tăng thêm số nhiệm vụ khác nhau mà một nhân viên thực hiện mà không tăng thêm độ phức tạp của bất kì công việc nào.
Sự luân chuyển công việc mang lại những lợi thế về hiệu quả kĩ thuật, tạo nên sự đa dạng và kích thích nhân viên.