Chương 1 NHỮNG VẦN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI CÁC TỔ CHỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CÔNG LẬP 1. Khái quát về tổ chức khoa học và công nghệ công lập 1. Hoạt động khoa học công nghệ Khoa học là hệ thống tri thức về bản chất, quy luật tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy. [22] Như vậy thực chất của khoa học là sự khám phá các hiện tượng các thuộc tính vốn tồn tại một cách khách quan.
Sự khám phá này đã làm thay đổi nhận thức của con người tạo điều kiện nghiên cứu, ứng dụng hiểu biết này vào thực tế. Khoa học là kết quả nghiên cứu của quá trình hoạt động thực tiễn, nhưng đến lượt mình nó lại có vai trò to lớn tác động mạnh mẽ trở lại hoạt động sản xuất, con người hoàn toàn có khả năng đưa khoa học thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm. [22] Trước đây cách hiểu truyền thống thường đồng nhất công nghệ với kỹ thuật, thiết bị mà không lưu ý với thực tế vận hành, tay nghề của công nhân, năng lực tổ chức quản lý hoạt động sản xuất, do vậy thuật ngữ “công nghệ” thường được dùng thay cho thuật ngữ “kỹ thuật”.
việc hiểu đúng nội dung “công nghệ” như hiện nay đặc biệt có ý nghĩa quan trọng, khi công nghệ thực sự trở thành nhân tố quyết định khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường trong nước cũng như quốc tế. 10 Khác với khoa học các giải pháp kĩ thuật của công nghệ đóng góp trực tiếp vào sản xuất và đời sống nên nó được sự bảo hộ của nhà nước dưới hình thức sở hữu công nghiệp’ và do đó nó là thứ hàng để mua bán. Khoa học và công nghệ có nội dung khác nhau nhưng chúng lại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Mối liên hệ chặt chẽ này thể hiện ở chỗ khi còn ở trình độ thấp, khoa học tác động tới kĩ thuật và sản xuất còn rất yếu, nhưng đã phát triển đến trình độ cao như ngày nay thì nó tác động mạnh mẽ và trực tiếp tới sản xuất.
Khoa học và công nghệ, là kết quả sự vận dụng những hiểu biết, tri thức khoa học của con người để sáng tạo cải tiến các công cụ, phương tiệ phục vụ cho sản xuất và các hoạt động khác Hoạt động khoa học và công nghệ là hoạt động nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và triển khai thực nghiệm, phát triển công nghệ, ứng dụng công nghệ, dịch vụ khoa học và công nghệ, phát huy sáng kiến và hoạt động sáng tạo khác nhằm phát triển khoa học và công nghệ. [22] Nhiệm vụ của hoạt động khoa học và công nghệ là: - Xây dựng lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam; xây dựng luận cứ khoa học cho việc định ra đường lối, chính sách, pháp luật về phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh; góp phần xây dựng nền giáo dục tiên tiến, xây dựng con người mới Việt Nam; kế thừa và phát huy giá trị truyền thống lịch sử, văn hoá dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại và đóng góp vào kho tàng văn hoá, khoa học của thế giới. - Nâng cao năng lực khoa học và công nghệ để làm chủ công nghệ tiên tiến, công nghệ cao, phương pháp quản lý tiên tiến; sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khỏe con người; kịp thời dự báo, phòng, chống, hạn chế và khắc phục hậu quả thiên tai. 11 - Tiếp thu thành tựu khoa học và công nghệ của thế giới để tạo ra, ứng dụng có hiệu quả công nghệ mới; tạo ra sản phẩm mới có sức cạnh tranh cao; phát triển nền khoa học và công nghệ Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực, tiếp cận với trình độ thế giới, làm cơ sở vững chắc cho việc phát triển các ngành công nghiệp hiện đại; đẩy mạnh việc phổ biến và ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ vào sản xuất và đời sống.
Nguyên tắc hoạt động khoa học và công nghệ là: - Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh, phát triển khoa học và công nghệ. - Xây dựng và phát huy năng lực nội sinh về khoa học và công nghệ kết hợp với việc tiếp thu có chọn lọc thành tựu khoa học và công nghệ của thế giới, phù hợp với thực tiễn Việt Nam. - Bảo đảm quyền tự do sáng tạo, phát huy dân chủ trong hoạt động khoa học và công nghệ vì sự phát triển của đất nước. - Trung thực, khách quan, đề cao đạo đức nghề nghiệp, tự chủ, tự chịu trách nhiệm.
- Bảo đảm an toàn tính mạng, sức khỏe con người, bảo vệ môi trường. Tổ chức khoa học và công nghệ công lập Tổ chức Khoa học và công nghệ (KHCN) được định nghĩa trong Luật Khoa học và công nghệ 2013 là tổ chức có chức năng chủ yếu là nghiên cứu khoa học, nghiên cứu triển khai và phát triển công nghệ, hoạt động dịch vụ khoa học và công nghệ, được thành lập và đăng ký hoạt động theo quy định của pháp luật. [22] Theo quy định tại Điều 9 Luật khoa học và công nghệ năm 2013 thì hình thức và phân loại tổ chức khoa học và công nghệ tại Việt Nam được quy định cụ thể như sau: - Hình thức của tổ chức khoa học và công nghệ được quy định như sau: 12 + Tổ chức nghiên cứu khoa học, tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ được tổ chức dưới hình thức viện hàn lâm, viện, trung tâm, phòng thí nghiệm, trạm nghiên cứu, trạm quan trắc, trạm thử nghiệm và hình thức khác do Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định; + Cơ sở giáo dục đại học được tổ chức theo quy định của Luật giáo dục đại học; + Tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ được tổ chức dưới hình thức trung tâm, văn phòng, phòng thử nghiệm và hình thức khác do Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ quy định. - Tổ chức khoa học và công nghệ được phân loại như sau: + Theo thẩm quyền thành lập, tổ chức khoa học và công nghệ gồm các loại quy định tại khoản 1 Điều 12 của Luật khoa học và công nghệ năm 2013; + Theo chức năng, tổ chức khoa học và công nghệ gồm tổ chức nghiên cứu cơ bản, tổ chức nghiên cứu ứng dụng, tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ; + Theo hình thức sở hữu, tổ chức khoa học và công nghệ gồm tổ chức khoa học và công nghệ công lập, tổ chức khoa học và công nghệ ngoài công lập, tổ chức khoa học và công nghệ có vốn nước ngoài.
Tổ chức khoa học và công nghệ công lập là tổ chức khoa học và công nghệ do cơ quan có thẩm quyền quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e và g Khoản 1 Điều 12 Luật khoa học và công nghệ và do tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, thành lập và đầu tư. [22] Từ một cách tiếp cận khác, tổ chức KHCN công lập được nhận định là tương đồng với đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động trong lĩnh vực khoa học và công nghệ bởi các đặc điểm về cơ quan thành lập, tính chất hoạt động và cơ cấu nguồn tài chính của các tổ chức này. 13 Đơn vị sự nghiệp (ĐVSN) là những tổ chức được thành lập để thực hiện các HĐSN, những hoạt động này nhằm duy trì và đảm bảo sự hoạt động bình thường của xã hội, không nhằm mục đích thu lợi nhuận.Với cách hiểu này, ĐVSN là đơn vị không có tính chất xí nghiệp, lấy phát triển kinh tế, văn hóa và phúc lợi xã hội làm mục tiêu, nhân viên các ĐVSN thuộc sở hữu toàn dân thuộc biên chế sự nghiệp. Nguồn kinh phí chủ yếu dựa vào cấp phát kinh phí sự nghiệp của NSNN, một phần dựa vào thu nhập bản thân của hoạt động sự nghiệp [28, tr.
Tùy theo yêu cầu quản lý của nhà nước cũng như chức năng nhiệm vụ của từng đơn vị mà có nhiều cách phân loại các ĐVSN khác nhau. Căn cứ vào chuyên ngành hoạt động của ĐVSN, có thể phân loại các ĐVSN theo các lĩnh vực như y tế; giáo dục, đào tạo; văn hóa; thể dục thể thao; khoa học công nghệ… Đây là cách phân loại theo chiều dọc, tuy nhiên trên thực tế có rất nhiều ĐVSN tham gia hoạt động đồng thời ở nhiều lĩnh vực. Căn cứ vào cơ quan trực tiếp quản lý, có thể chia ĐVSN thành 4 nhóm: ĐVSN thuộc các cơ quan hành chính nhà nước; ĐVSN trực thuộc các đơn vị sự nghiệp công; ĐVSN thuộc các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội – nghề nghiệp; ĐVSN trực thuộc các doanh nghiệp nhà nước. Cách phân loại này phân biệt rõ các cấp quản lý trực tiếp đối với các ĐVSN công, từ đó có sự rõ ràng trong giao nhiệm vụ và cấp kinh phí hoạt động.
- Căn cứ quy định của Luật Ngân sách nhà nước, các ĐVSN công lập được phân thành đơn vị dự toán cấp I, đơn vị dự toán ngân sách, đơn vị sử dụng ngân sách: Đơn vị dự toán cấp I là đơn vị dự toán ngân sách được Thủ tướng Chính phủ hoặc Ủy ban nhân dân giao dự toán ngân sách. - Đơn vị dự toán ngân sách là cơ quan, tổ chức, đơn vị được cấp có thẩm quyền giao dự toán ngân sách. 14 - Đơn vị sử dụng ngân sách là đơn vị dự toán ngân sách được giao trực tiếp quản lý, sử dụng ngân sách. Tài chính công và tài chính tổ chức khoa học và công nghệ công lập Tài chính công là một phạm trù gắn với hoạt động thu và chi bằng tiền của nhà nước, phản ánh hệ thống các quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị trong quá trình hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ của nhà nước nhằm phục vụ việc thực hiện những chức năng vốn có của nhà nước đối với xã hội (không vì mục tiêu lợi nhuận).
Nội dung của tài chính công bao gồm: Ngân sách nhà nước (NSNN) từ trung ương đến địa phương; dự trữ nhà nước; tín dụng nhà nước; ngân hàng nhà nước; tài chính của các cơ quan hành chính nhà nước, tài chính của các đơn vị sự nghiệp nhà nước; các quỹ tài chính nhà nước (đối với nước ta).