Chương I, Luật BHXH số 71/2006/QH11) Điều kiện tiên quyết để một hệ thống BHXH hoạt động được là phải hình thành được nguồn quỹ tiền tệ tập trung để rồi nguồn quỹ này được dùng để chi trả trợ cấp cho các chế độ BHXH. b) Đặc điểm quỹ bảo hiểm xã hội Quỹ bảo hiểm xã hội mang đầy đủ những đặc trưng cơ bản nhất của một quỹ, ngoài ra do đặc thù của BHXH mà quỹ BHXH có những đặc trưng riêng có sau: + Quỹ BHXH là quỹ an toàn về tài chính. Nghĩa là, phải có một sự cân đối giữa nguồn vào và nguồn ra của quỹ BHXH. Chức năng của BHXH là đảm bảo an toàn về thu nhập cho NLĐ và để thực hiện chức năng này, đến lượt nó, BHXH phải tự bảo vệ mình trước nguy cơ mất an toàn về tài chính.
Để tạo sự an toàn này, về nguyên tắc tổng số tiền hình thành nên quỹ phải bằng tổng số tiền chi ra từ quỹ. Tuy nhiên, không phải cứ đồng tiền nào vào quỹ là được dùng để chi trả ngay mà phải sau một khoảng thời gian nhất định, đôi khi tương đối dài (như đối với chế độ hưu trí) số tiền ấy mới được chi ra, cùng thời gian ấy đồng tiền luôn biến động và có thể bị giảm giá trị do lạm phát, điều này đặt ra yêu cầu quỹ BHXH không chỉ phải bảo đảm về mặt số lượng mà còn phải bảo toàn về mặt giá trị. 13 Điều đó lý giải tại sao trong điều 40 Điều lệ BHXH nước ta quy định “ Quỹ bảo hiểm xã hội được thực hiện các biện pháp để bảo tồn giá trị và tăng trưởng theo quy định của chính phủ ”. + Tính tích luỹ.
Quỹ BHXH là “ của để dành ” của người lao động phòng khi ốm đau, tuổi già. và đó là công sức đóng góp của cả quá trình lao động của người lao động. Trong quỹ BHXH luôn tồn tại một lượng tiền tạm thời nhàn rỗi ở một thời điểm hiện tại để chi trả trong tương lai, khi người lao động có đủ các điều kiện cần thiết để được hưởng trợ cấp (chẳng hạn như về thời gian và mức độ đóng góp BHXH). Số lượng tiền trong quỹ có thể được tăng lên bởi sự đóng góp đều đặn của các bên tham gia và bởi thực hiện các biện pháp tăng trưởng quỹ.
+ Quỹ BHXH vừa mang tính hoàn trả vừa mang tính không hoàn trả. Tính hoàn trả thể hiện ở chỗ, mục đích của việc thiết lập quỹ BHXH là để chi trả trợ cấp cho người lao động khi họ không may gặp các rủi ro dẫn đến mất hay giảm thu nhập. Do đó, người lao động là đối tượng đóng góp đồng thời cũng là đối tượng nhận trợ cấp. Tuy nhiên, thời gian, chế độ và mức trợ cấp của mỗi người sẽ khác nhau, điều đó phụ thuộc vào những rủi ro mà họ gặp phải cũng như mức độ đóng góp và thời gian tham gia BHXH.
Tính không hoàn trả thể hiện ở chỗ, mặc dù nguyên tắc của BHXH là có đóng- có hưởng, đóng ít- hưởng ít, đóng nhiều- hưởng nhiều nhưng như vậy không có nghĩa là những người có mức đóng góp như nhau sẽ chắc chắn được hưởng một khoản trợ cấp như nhau. Trong thực tế, cùng tham gia BHXH nhưng có người được hưởng nhiều lần, có người được hưởng ít lần (với chế độ ốm đau), thậm trí không được hưởng (chế độ thai sản). c) Nguồn hình thành quỹ BHXH. Quỹ BHXH được hình thành chủ yếu từ các nguồn sau đây: - Người sử dụng lao động đóng góp - Người lao động đóng góp - Nhà nước đóng và hỗ trợ thêm 14 - Các nguồn khác (như cá nhân và các tổ chức từ thiện ủng hộ, lãi do đầu tư phần quỹ nhàn rỗi).
d) Phương thức và mức đóng góp BHXH Phần lớn ở các nước trên thế giới, quỹ BHXH đều được hình thành từ các nguồn nêu trên. Tuy nhiên, phương thức đóng góp và mức đóng góp của các bên tham gia BHXH có khác nhau. Về phương thức đóng góp BHXH của người lao động và người sử dụng lao động hiện vẫn còn 2 quan điểm. Quan điểm thứ nhất cho rằng: phải căn cứ vào mức lương cá nhân và quỹ lương của cơ quan, doanh nghiệp.
Quan điểm thứ hai lại nêu lên, phải căn cứ vào mức thu nhập cơ bản của người lao động được cân đối chung trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân để xác định mức đóng góp. Về mức đóng góp BHXH, một số nước quy định người sử dụng lao động phải chịu toàn bộ chi phí cho chế độ tai nạn lao động, Chính phủ trả chi phí y tế và trợ cấp gia đình, các chế độ còn lại cả NLĐ và NSDLĐ cùng đóng góp mỗi bên một phần bằng nhau. Một số nước khác lại quy định chính phủ bù thiếu cho quỹ BHXH hoặc chịu toàn bộ chi phí quản lý BHXH v.v… Căn cứ Quyết định số 20/2002/QĐ-TTg ngày 24/01/2002 của Thủ tướng Chính phủ về việc chuyển BHYT sang BHXH Việt Nam, kể từ năm 2003, mức đóng BHXH và BHYT được gọi chung là 23% quỹ lương thay vì 20% quỹ lương của đơn vị sử dụng lao động. Trong đó người sử dụng lao động đóng 17% so với tổng quỹ lương của những người tham gia trong đơn vị và người lao động đóng 6% lương hàng tháng.
Năm 2007, Thực hiện theo Luật BHXH, mức đóng BHXH và BHYT là 23% Theo Luật BHXH, NSDLĐ từ tháng 1/2007 đến tháng 12/2009 đóng góp bằng 15% so với tổng quỹ tiền lương của những người tham gia BHXH trong đơn vị, NLĐ đóng bằng 5% tiền lương tháng để chi cho các chế độ hưu trí và tử tuất. Năm 2010 - 2011, NSDLĐ đóng góp bằng 16%, NLĐ đóng bằng 6% tiền lương tháng để chi cho các chế độ hưu trí và tử tuất 15 Năm 2012 - 2013, NSDLĐ đóng góp bằng 17%, NLĐ đóng bằng 7% tiền lương tháng để chi cho các chế độ hưu trí và tử tuất Năm 2014 đến 05/2017, NSDLĐ đóng góp bằng 18%, NLĐ đóng bằng 8% tiền lương tháng để chi cho các chế độ hưu trí và tử tuất Từ tháng 6/2017 trở đi, NSDLĐ đóng góp bằng 17,5%, NLĐ đóng bằng 8% tiền lương tháng để chi cho các chế độ hưu trí và tử tuất Hàng tháng, NSDLĐ có trách nhiệm phải đóng BHXH theo quy định của BHXH. Mức đóng BHXH căn cứ vào tiền lương tháng được xác định dựa trên ngạch bậc, chức vụ, thâm niên, hệ số chênh lệch bảo lưu. Còn Bộ Tài chính sẽ trích từ Ngân sách Nhà nước số tiền chuyển vào quỹ BHXH đủ chi cho các chế độ hưu trí, trợ cấp mất sức lao động, TNLĐ…Việc tổ chức thu BHXH do BHXH Việt Nam thực hiện, quỹ BHXH được quản lý thống nhất theo chế độ tài chính của Nhà nước, hạch toán độc lập.
Ngƣời SDLĐ đóng góp Người LĐ đóng góp Phạt Nhà nước Hỗ trợ Thu nhập từ đầu tư Cơ quan BHXH Chi trả trợ cấp Phí quản lý Phí đầu tư Sơ đồ1.1: Mối liên hệ giữa đầu vào và đầu ra của quỹ bảo hiểm xã hội 16 1. Quản lý thu BHXH 1. Khái niệm và cơ sở quản lý thu BHXH a) Sự cần thiết phải quản lý thu BHXH Quản lý thu BHXH là một trong những hoạt động rất quan trọng trong quản lý quỹ BHXH. Đây là nghiệp vụ mà các cơ quan BHXH luôn chú trọng quan tâm và đặt lên hàng đầu, quản lý việc tham gia BHXH của người lao động mà tập trung là quản lý việc đóng BHXH của họ nhằm tăng trưởng và ổn định quỹ chống làm thất thoát quỹ BHXH.
b) Quản lý thu BHXH: Thứ nhất, quản lý việc tham gia BHXH của người lao động, mà tập trung là quản lý việc đóng BHXH của họ.Trong nền kinh tế thị trường, đối tượng tham gia BHXH rất đa dạng. Họ có thể là công chức nhà nước, những người làm công ăn lương trong các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Cũng có thể họ là những người tự tạo việc làm (lao động độc lập).Vì vậy quản lý quỹ BHXH đặt ra nhiệm vụ tiên quyết là phải quản lý được tiền lương, thu nhập.của những đối tượng này, để từ đó quản lý sự đóng góp BHXH của họ. Thứ hai, quản lý sự đóng góp của người sử dụng lao động: Đây cũng là một nhiệm vụ quan trọng của quản lý thu BHXH.
Người sử dụng lao động có trách nhiệm đóng góp BHXH cho người lao động mà mình thuê mướn. Vì vậy, quản lý thu BHXH trước hết phải quản lý được số lượng các doanh nghiệp, các tổ chức kinh doanh có sử dụng lao động phải đóng BHXH theo luật định; quản lý được sổ lương tại mỗi doanh nghiệp và quỹ lương của doanh nghiệp đó. Đồng thời phải quản lý được năng lực tài chính và khả năng đóng BHXH của các doanh nghiệp. Quản lý tốt các doanh nghiệp sẽ hạn chế sự trốn tránh trách nhiệm đóng BHXH của các doanh nghiệp, đồng thời nắm được thực trạng sản xuất kinh doanh của họ(thông qua quỹ lương, thông qua lợi nhuận của doanh nghiệp.
17 Thứ ba, quản lý nguồn thu từ đầu tư quỹ BHXH. Đây là một nội dung trong quản lý hoạt động đầu tư tăng trưởng quỹ BHXH. Tuy nhiên, dưới góc độ tổng thu, đây cũng thuộc vào nội dung quản lý thu BHXH. Thứ tư, quản lý thu là phải quản lý lợi nhuận do khoản đầu tư đem lại.
Đây là nghiệp vụ quản lý thu rất khó, nhưng lại có ảnh hưởng rất lớn đến việc đánh giá hiệu quả đầu tư và là sự đảm bảo an toàn cho quỹ BHXH. Để thực hiện được những nội dung trên, cần có những phương pháp quản lý và công cụ quản lý thích hợp. Trên thực tế, có nhiều phương pháp quản lý, nhưng các phương pháp đó về cơ bản có thể có những đặc điểm chung là: - Các phương pháp đều phải xây dựng được quy trình thu phù hợp với các nhóm đối tượng. - Dựa vào đội ngũ chuyên môn giỏi, có năng lực và có phẩm chất.
- Yêu cầu quan trọng để tiến hành các phương pháp quản lý là hoàn thiện hệ thống thống kê và kế toán BHXH. Nguyên tắc quản lý thu BHXH - Quá trình quản lý tài chính BHXH phải luôn được tính toán, so sánh và cân đối trong trạng thái động: Bởi vì lượng tiền mặt của quỹ biến động theo từng chế độ trợ cấp BHXH khác nhau, lượng lao động biến động một cách thường xuyên nên trong quản lí, đặc biệt là khâu lập kế hoạch phải chú trọng tới vấn đề này. Đây cũng là một đặc thù trong ngành Bảo hiểm nói chung và BHXH nói riêng vì tính đảo ngược chu kì kinh doanh tức là thu phí trước chi trả cho các chế độ sau.