phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, danh mục biểu, bảng và sơ đồ, nội dung chính của luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng, cụ thể: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý rủi ro tín dụng Doanh nghiệp tại Agribank Chi nhánh tỉnh Tuyên Quang. Chƣơng 3: Giải pháp tăng cƣờng quản lý rủi ro tín dụng Doanh nghiệp tại Agribank Chi nhánh tỉnh Tuyên Quang. HỌC VIÊN: NGUYỄN HUY HOÀNG 4 LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Rủi ro tín dụng của ngân hàng thƣơng mại 1. Hoạt động tín dụng của ngân hàng thƣơng mại Tín dụng ngân hàng nói chung đƣợc hiểu là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay là ngân hàng và bên đi vay, trong đó ngân hàng chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, tín dụng ngân hàng đƣợc hiểu là một giao dịch về tài sản giữa ngân hàng (bên cho vay) và khách hàng (bên đi vay) trong đó ngân hàng chuyển giao một số tiền nhất định cho khách hàng sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, khách hàng có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn. Hoạt động tín dụng là hoạt động cơ bản của các ngân hàng thƣơng mại.
Dƣ nợ tín dụng thƣờng chiếm trên 50% tổng tài sản của ngân hàng thƣơng mại và thu nhập từ tín dụng thƣờng chiếm từ 50% - 70% tổng thu nhập của ngân hàng thƣơng mại. Bên cạnh việc mang lại thu nhập chính cho ngân hàng thì rủi ro trong kinh doanh ngân hàng cũng có xu hƣớng tập trung vào danh mục tín dụng. Chính vì vậy mà hoạt động tín dụng luôn là mối quan tâm lớn nhất của các ngân hàng thƣơng mại cũng nhƣ thanh tra ngân hàng. Hoạt động tín dụng của ngân hàng thƣơng mại có các đặc trƣng sau: - Tài sản trong quan hệ tín dụng ngân hàng là tiền.
- Xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, vì vậy ngân hàng khi chuyển giao tài sản cho ngƣời đi vay sử dụng phải có cở sở để tin rằng ngƣời đi vay sẽ trả đúng hạn. Đây là yếu tố hết sức cơ bản trong quản trị tín dụng, là lý do mà ngân hàng phải thực hiện phân tích kỹ lƣỡng trƣớc khi quyết định cho vay. - Giá trị hoàn trả thông thƣờng phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, hay nói cách khác là ngƣời đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài phần vốn gốc. - Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, tiền vay đƣợc cấp trên cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện.
Về khía cạnh pháp lý, những văn bản xác định quan hệ tín dụng nhƣ hợp đồng tín dụng, khế ƣớc…thực chất là lệnh phiếu, trong đó bên đi vay cam kết hoàn trả vô điều kiện cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán. HỌC VIÊN: NGUYỄN HUY HOÀNG 5 LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ Một số loại hình tín dụng mà ngân hàng thƣơng mại thực hiện bao gồm: a. Căn cứ theo mục đích cho vay: Căn cứ vào mục đích cho vay, hoạt động tín dụng có thể chia thành: - Tín dụng công nghiệp và thƣơng mại: là loại hình cho vay đối với các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thƣơng mại và dịch vụ. - Tín dụng nông nghiệp: là loại hình cho vay để trang trải các chi phí sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp.
- Tín dụng tiêu dùng: Là loại hình cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng cá nhân. Căn cứ theo thời hạn cho vay: Căn cứ vào thời hạn cho vay, hoạt động tín dụng có thể chia thành: - Tín dụng ngắn hạn: là loại hình cho vay có thời hạn đến 12 tháng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lƣu động của doanh nghiệp và nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân. - Tín dụng trung hạn: là loại hình cho vay có thời hạn từ trên 12 tháng đến 60 tháng (có thể khác nhau ở mỗi nƣớc). Tín dụng trung hạn chủ yếu đƣợc sử dụng để đầu tƣ mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh… - Tín dụng dài hạn: là loại hình cho vay có thời hạn từ 60 tháng trở lên, có thể kéo dài đến 20-30 năm hoặc thậm chí lâu hơn.
Tín dụng dài hạn đƣợc cung cấp để đáp ứng các nhu cầu dài hạn nhƣ: Xây dựng, mua sắm các thiết bị phục vụ cho sản xuất quy mô lớn (nhà máy thủy điện, xi măng, đƣờng… ), các dự án BT, BOT… c. Căn cứ theo khách hàng vay vốn: Căn cứ theo khách hàng vay vốn, hoạt động tín dụng có thể chia thành: - Tín dụng đối với cá nhân: là loại hình cho vay để bù đắp nhu cầu tiêu dùng cá nhân. Thời hạn cho vay có thể là ngắn hạn, trung hạn hoặc dài hạn tùy theo mục đích sử dụng vốn vay và nguồn trả nợ của cá nhân. - Tín dụng đối với pháp nhân: là loại hình cho vay để phục cho nhu cầu sản xuất, kinh doanh của Doanh nghiệp.
Thời hạn cho vay có thể là ngắn hạn, trung hạn hoặc dài hạn tùy vào nhu cầu vốn của Doanh nghiệp. Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng: Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng, hoạt động tín dụng có thể HỌC VIÊN: NGUYỄN HUY HOÀNG 6 LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ chia thành: - Tín dụng không có bảo đảm: Là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên vay hoặc ngƣời thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng. Loại hình cho vay này thƣờng chỉ đƣợc áp dụng đối với một số khách hàng tốt và đã có quan hệ tín dụng lâu năm với ngân hàng. - Tín dụng có bảo đảm: Là loại hình cho vay mà ngân hàng yêu cầu khách hàng phải có bảo đảm nhƣ: thế chấp, cầm cố tài sản hoặc phải có sự bảo lãnh của ngƣời thứ ba.
Loại hình cho vay này thƣờng áp dụng đối với các khách hàng không có uy tín cao đối với ngân hàng hoặc mới quan hệ tín dụng. Sự bảo đảm này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm nguồn thu nợ thứ hai bổ sung cho nguồn thu nợ thứ nhất khi thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn. Căn cứ vào phương pháp hoàn trả: Căn cứ vào phƣơng pháp hoàn trả của khách hàng, hoạt động tín dụng có thể chia thành: - Tín dụng có thời hạn: Là loại cho vay có thỏa thuận thời hạn trả nợ cụ thể theo hợp đồng, bao gồm: Cho vay chỉ có một kỳ hạn trả nợ, cho vay có nhiều kỳ hạn trả nợ. - Tín dụng không có thời hạn cụ thể: Đối với loại cho vay này ngân hàng có thể yêu cầu hoặc ngƣời đi vay tự nguyện trả nợ bất cứ lúc nào nhƣng phải báo trƣớc một thời gian hợp lý, thời gian này có thể thỏa thuận trong hợp đồng.
Căn cứ vào xuất xứ tín dụng: Căn cứ vào xuất xứ tín dụng, hoạt động tín dụng có thể chia thành: - Tín dụng trực tiếp: Ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho ngƣời có nhu cầu vốn đồng thời ngƣời đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng. - Tín dụng gián tiếp: Là loại hình cho vay đƣợc thực hiện thông qua việc mua lại các khế ƣớc hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán. Các ngân hàng thƣơng mại thƣờng cho vay gián tiếp theo các loại sau: Chiết khấu thƣơng phiếu, mua các phiếu bán hàng, bao thanh toán (mua các khoản phải thu). Khái niệm, đặc điểm rủi ro tín dụng Rủi ro là vấn đề không đƣợc mong đợi trong tất cả các lĩnh vực trong đời sống xã hội.
Rủi ro có thể đƣợc hiểu một cách khái quát đó là khả năng xảy ra các biến cố không lƣờng trƣớc, khi xảy ra sẽ làm cho kết quả thực tế khác kết quả kỳ vọng theo kế hoạch. Rủi ro luôn xuất hiện bất ngờ và đe dọa sự sống còn của doanh nghiệp, tuy nhiên muốn có lợi nhuận thì phải chấp nhận nó, không đƣợc né tránh nó. Vì vậy, để tồn tại và phát triển, để đứng vững trong cạnh tranh các doanh nghiệp HỌC VIÊN: NGUYỄN HUY HOÀNG 7 LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ phải đƣơng đầu với rủi ro có thể xảy ra bằng cách tiên liệu phán đoán các rủi ro có thể xảy ra để tìm biện pháp phòng ngừa, hạn chế nhằm giảm thiểu thiệt hại do rủi ro gây ra. Rủi ro tín dụng là một trong những loại rủi ro phổ biến nhất trong hoạt động ngân hàng thƣơng mại thị trƣờng tài chính.
Rủi ro tín dụng cũng là loại rủi ro lớn nhất, thƣờng xuyên xảy ra và gây hậu quả nặng nề nhất đối với hoạt động của ngân hàng vì các khoản cho vay thƣờng chiếm quá nửa giá trị tổng tài sản và tạo ra từ 1/2 đến 2/3 nguồn thu của ngân hàng. Hoạt động tín dụng tạo ra phần lớn nguồn thu cho ngân hàng song cũng mang lại những thiệt hại nặng nề, có khi dẫn đến phá sản ngân hàng. Rủi ro tín dụng là rủi ro phức tạp nhất, quản lý và phòng ngừa khó khăn nhất. Nó đòi hỏi ngân hàng phải có những giải pháp đồng bộ, hữu hiệu mới có thể hạn chế, ngăn ngừa bớt rủi ro, giảm tối thiểu những thiệt hại có thể xảy ra.
Rủi ro tín dụng cũng đã đƣợc rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu và cũng đã đƣa ra nhiều quan niệm khác nhau: - Rủi ro tín dụng đƣợc hiểu là những tổn thất do khách hàng không trả đƣợc nợ hoặc sự giảm sút chất lƣợng tín dụng của những khoản vay. - Rủi ro tín dụng phát sinh trong trƣờng hợp Ngân hàng không thu đƣợc đầy đủ gốc và lãi của khoản vay hoặc là việc thanh toán nợ gốc và lãi không đúng kỳ hạn. - Rủi ro tín dụng đƣợc định nghĩa là nguy cơ mà ngƣời đi vay không thể chi trả tiền lãi hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời gian đã ấn định trong hợp đồng tín dụng. Đây là thuộc tính vốn có của hoạt động ngân hàng.