CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CƠ BẢN VÀ THỰC TẾ VỀ QUẢN LÝ NGÂN QUỸ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP 1. TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP VÀ TẦM QUAN TRỌNG CỦA NGÂN QUỸ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP 1. bảo hiểm thất nghiệpTổng quan về bảo hiểm thất nghiệp 1. Sự ra đời của bảo hiểm thất nghiệp Từ cuối thế kỷ XIX, BHTN đã xuất hiện, khởi đầu là nguồn tài chính của quỹ công đoàn.
Dần dần một số chủ doanh nghiệp vì lợi ích của chính họ để ổn định đội ngũ công nhân lành nghề đã thành lập quỹ trợ cấp mất việc, nghỉ việc tạm thời. Số người được hưởng các quỹ trợ cấp mất việc, nghỉ việc tạm thời chỉ đóng khung trong doanh nghiệp. Về sau một số thành phố, chính quyền đứng ra thành lập quỹ BHTN với phương thức tự nguyện. Với phương thức này, quỹ BHTN chỉ thu hút được những người lao động trong phạm vi thành phố đó.
Trên thực tế, đa số người đóng cho quỹ là những người có việc làm không ổn định, người có thu nhập thấp mới tham gia, dẫn đến quỹ thu không đủ để chi. ở những thành phố mà chính quyền không đứng ra thành lập quỹ BHTN, thì chính quyền tài trợ cho các quỹ bảo hiểm tư nhân, quỹ công đoàn để tăng thêm mức trợ cấp cho người thất nghiệp và đảm bảo an toàn cho quỹ. Vào năm 1893, quỹ BHTN do chính quyền tổ chức đầu tiên đã xuất hiện ở Berne (Thụy Sỹ) nhằm bảo vệ cho tất cả công nhân, không phân biệt là thành viên công đoàn hay không. Trong khi Thụy Sỹ cho ra đời quỹ BHTN thì ở Bỉ và Pháp chính quyền chủ trương viện trợ cho các quỹ công đoàn và giới chủ để trợ cấp cho những người lao động mất việc làm.
Vào những năm đầu của thế kỷ XX, có tám nước đã ban hành luật pháp quốc gia về BHTN. Trong đó, BHTN được tiến hành theo phương thức bắt buộc có sự tham gia 4 5 của Nhà nước, người lao động và chủ sử dụng lao động, như: Nước Anh thực hiện vào năm 1911, Italia thực hiện vào năm 1919, còn lại các nước: Hà Lan, Tây Ban Nha, Bỉ, Cộng hòa Áo, Cộng hòa liên bang Đức chủ trương bắt đầu bằng viện trợ của Nhà nước cho các quỹ BHTN tự nguyện. Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, làn sóng thất nghiệp đã thúc đẩy sự ra đời BHTN của một số quốc gia. Trong những năm 30, do cuộc khủng hoảng kinh tế, nạn thất nghiệp đã tới mức trầm trọng khiến cho các quốc gia phải quan tâm đến người thất nghiệp một cách hệ thống hơn.
Từ năm 1934, chỉ trong thời gian ngắn, đã có 5 quốc gia ban hành luật pháp quốc gia về trợ cấp thất nghiệp. Trong đó, Thụy Điển, Niu Di Lân thiết lập chế độ BHTN tự nguyện, còn Hoa Kỳ, Italia, Canađa, thiết lập chế độ BHTN bắt buộc. Những năm đầu của thập kỷ 40, có bốn nước đã ban hành trợ cấp thất nghiệp, trong đó có Bồ Đào Nha, Nhật Bản, Australia, Hy Lạp áp dụng BHTN bắt buộc. Đến năm 1955 đã có 29 nước thực hiện BHTN, trong số đó có 7 nước như: Tiệp Khắc (cũ), Liên Xô (cũ), Ba Lan, Ai Len, Iran.
mặc dù đã ban hành pháp luật quốc gia về BHTN nhưng không áp dụng hoặc áp dụng một thời gian rồi bỏ. Trong đó, Ba Lan bỏ BHTN vì Nhà nước cho rằng họ đã đạt được sự toàn dụng nhân công không còn tình trạng thất nghiệp; 15 nước thực hiện BHTN bắt buộc (trong đó, riêng Thụy Sỹ có 23 bang thiết lập BHTN bắt buộc, còn 2 bang thiết lập BHTN tự nguyện); 3 nước (Đan Mạch, Phần Lan, Thụy Điển) thực hiện BHTN tự nguyện; 4 nước (Pháp, Luých Xăm Bua, Tây Ban Nha, Úc) thiết lập chế độ trợ cấp bảo hiểm mất việc làm do Nhà nước tài trợ hoàn toàn. Đến năm 1989 có thêm 8 nước thực hiện BHTN, đưa tổng số các nước trên thế giới thực hiện BHTN lên 37 nước, chủ yếu là các nước có nền kinh tế thị trường. Trong số 37 nước nói trên, có gần 30 nước có chế độ BHTN bắt buộc.
Tùy theo mỗi nước, chế độ trợ cấp thất nghiệp được chi trả trong thời gian xác định từ 6 tháng đến 2 năm. Tuy nhiên, khi người thất nghiệp hết hạn hưởng trợ cấp thất nghiệp vẫn chưa có việc làm họ có thể hưởng trợ cấp xã hội. 5 6 BHTN được thực hiện phổ biến ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, nhưng trong thập kỷ gần đây BHTN cũng được áp dụng ở một số nước đang phát triển do yêu cầu của cải cách kinh tế, như Trung Quốc, Mông Cổ. đến nay đã có 78 nước thực hiện BHTN.
BHTN có ý nghĩa rất lớn, nó không chỉ dừng lại ở việc đảm bảo đời sống cho cá nhân người thất nghiệp, tạo cơ hội tái hoà nhập vào thị trường lao động mà còn góp phần quan trọng ổn định chính trị, xã hội, tạo nên sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Sự ra đời và phát triển của BHTN là một biện pháp hữu hiệu, tạo điều kiện cho các quyền cơ bản của con người, quyền công dân trở thành hiện thực trong xã hội. Sự cần thiết của chính sách bảo hiểm thất nghiệp trong nền kinh tế thị trường Trong nền kinh tế thị trường, việc làm của người lao động bị chi phối bởi quan hệ cung cầu trên thị trường lao động. Nếu cung lớn hơn cầu về lao động trên thị trường sẽ dẫn tới thất nghiệp.
Chính sự mâu thuẫn giữa nhu cầu có việc làm và khả năng giải quyết việc làm là nguy cơ tiềm tàng dẫn đến thất nghiệp, nhất là với những nước có nền kinh tế đang phát triển. Tỷ lệ thất nghiệp thể hiện qua chênh lệch cung cầu lao động, biểu hiện trình trạng của thị trường lao động tại một thời điểm, thời kỳ xác định. Các học thuyết kinh tế thị trường đều cho rằng, thất nghiệp là hiện tượng có tính tất yếu khách quan, các biện pháp chống thất nghiệp chỉ có thể đem lại kết quả hạn chế chứ không thể loại bỏ được thất nghiệp. Điều đó cũng có nghĩa rằng, quan hệ cung cầu trên thị trường lao động không bao giờ có thể là cân bằng.
Sự gia tăng về dân số quá mức, cùng với quá trình hội nhập và toàn cầu hóa kinh tế cũng có những mặt tác động tiêu cực đến thị trường lao động, đến tình trạng thất nghiệp trong nền kinh tế. Kinh tế thị trường còn chịu sự chi phối của quy luật cạnh tranh. Cạnh tranh là thuộc tính đồng thời cũng là động lực của thị trường. Cạnh tranh trong thị trường được thực hiện bởi các chủ thể tham gia quan hệ có sự độc lập về kinh tế và khác nhau về lợi ích.
Sự cạnh tranh này trong nhiều trường hợp lệ thuộc vào tương quan cung cầu. Ví dụ, giữa những người lao động tìm việc, khi cầu lớn hơn cung, họ vẫn cạnh tranh với nhau 6 7 bởi ai cũng muốn tìm được việc làm trong điều kiện lao động tốt hơn, tiền lương cao hơn. Còn giữa những người sử dụng lao động, khi cung lớn hơn cầu, họ cũng có thể cạnh tranh với nhau để có được lực lượng lao động tốt nhất, rẻ nhất. Sự hoạt động của quy luật cạnh tranh khắc nghiệt trong kinh tế thị trường dẫn đến lao động trong những doanh nghiệp có vốn ít, kinh doanh nhỏ khó tồn tại trên thương trường buộc phải đóng cửa, giải thể hoặc phá sản dẫn đến nhiều lao động thất nghiệp.
Sự suy thoái của ngành này, sự hưng thịnh của ngành kia cuốn theo sự thay đổi về cơ cấu lao động, làm cho hiện tượng thất nghiệp cơ cấu phát triển. Bên cạnh đó, việc áp dụng kỹ thuật hiện đại, đổi mới công nghệ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng sản xuất mà không cần tuyển dụng thêm lao động hoặc thậm chí giảm số lượng lao động hiện có mà vẫn duy trì hoặc phát triển sản xuất. Đặc biệt, trong môi trường mà các quá trình tự động hóa, cơ khí hóa sản xuất diễn ra nhanh chóng, các nhà sản xuất luôn tìm cách mở rộng kinh doanh, trên cơ sở phát triển những dây chuyền tự động hóa vào quá trình sản xuất nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành sản phẩm để cạnh tranh hiệu quả. Một cỗ máy, một dây chuyền sản xuất tự động hóa có thể thay thế cho hàng chục, thậm chí hàng trăm công nhân.
Do đó, số lượng công nhân bị máy móc thay thế lại tiếp tục bổ sung vào đội quân thất nghiệp. Thất nghiệp do cạnh tranh gây ra còn thể hiện ở chỗ, trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh, các đơn vị kinh tế luôn phải tính tới việc giảm chi phí sản xuất, trong đó có giảm chi phí lao động, sử dụng ít lao động, tất yếu thất nghiệp sẽ xảy ra. Ngoài ra, do cạnh tranh là thuộc tính của kinh tế thị trường nên người lao động dễ bị đào thải, dễ mất việc, nhất là lao động yếu thế (lao động nữ, lao động tàn tật, lao động tay nghề thấp.) rất khó tìm việc làm và họ sẽ trở thành người thất nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh mang tính quy luật, nhưng để duy trì và bảo đảm sự phát triển lành mạnh của kinh tế thị trường, Nhà nước cần can thiệp, đưa ra các khuôn khổ luật pháp phù hợp, nhằm duy trì sự cạnh tranh lành mạnh trong nền kinh tế.
Sự can thiệp của Nhà nước vào lĩnh vực này thể hiện thông qua các quy định pháp luật về cạnh tranh và chống độc quyền. Tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế tác động đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các vùng, miền, giữa khu vực nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ cũng gây ra hiện 7 8 tượng thất nghiệp. Đây là điều không thể tránh khỏi đối với sự phát triển kinh tế của các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam. Ngoài ra, khi thay đổi một thể chế chính trị thường dẫn đến các chính sách vĩ mô, giải pháp kinh tế của Nhà nước cũng thay đổi, tình trạng nền kinh tế có sự biến đổi và tất nhiên nhu cầu sử dụng lao động cũng có sự thay đổi và hiện tượng thất nghiệp xuất hiện.