Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ HỆ THỐNG ĐÊ ĐIỀU 1. Cơ sở lý luận về quản lý hệ thống đê điều 1. Một số khái niệm Theo Luật Đê điều số 79/2006/QH11 ngày 29/11/2006 được Quốc Hội Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 10 thông qua gày 29/11/2006, khái niệm đê điều được nhận biết như sau: Đê điều là hệ thống công trình bao gồm đê, kè bảo vệ đê, cống qua đê và công trình phụ trợ. Đê là công trình ngăn nước lũ của sông hoặc ngăn nước biển, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phân loại, phân cấp theo quy định của pháp luật.
Kè bảo vệ đê là công trình xây dựng nhằm chống sạt lở để bảo vệ đê. Cống qua đê là công trình xây dựng qua đê dùng để cấp nước, thoát nước hoặc kết hợp giao thông thuỷ. Công trình phụ trợ là công trình phục vụ việc quản lý, bảo vệ đê điều, bao gồm công trình tràn sự cố; cột mốc trên đê, cột chỉ giới, biển báo đê điều, cột thủy chí, giếng giảm áp, trạm và thiết bị quan trắc về thông số kỹ thuật phục vụ công tác quản lý đê; điếm canh đê, kho, bãi chứa vật tư dự trữ phòng, chống lũ, lụt, bão, trụ sở Hạt quản lý đê, trụ sở Ban chỉ huy phòng, chống lụt, bão; công trình phân lũ, làm chậm lũ; dải cây chắn sóng bảo vệ đê (Quốc hội nước CHXHXN Việt Nam - Khoá XI, kỳ họp thứ 10, 2006). Phân loại hệ thống đê điều 1.
Phân loại theo nhiệm vụ của đê điều Hệ thống đê điều được chia làm nhiều loại tương ứng với từng nhiệm vụ ở từng khu vực khác nhau, cụ thể như sau: Đê sông là đê ngăn nước lũ của sông. Đê biển là đê ngăn nước biển. Đê cửa sông là đê chuyển tiếp giữa đê sông với đê biển hoặc bờ biển; Đê bao là đê bảo vệ cho một khu vực riêng biệt; 6 Đê bối là đê bảo vệ cho một khu vực nằm ở phía sông của đê sông; Đê chuyên dùng là đê bảo vệ cho một loại đối tượng riêng biệt. Phân loại đê điều theo cấp đê Phân loại theo cấp đê, đê được phân thành 6 cấp: Cấp đặc biệt; cấp I; cấp II; cấp III; cấp IV; và cấp V theo mức độ quan trọng từ cao đến thấp (Bộ Nông nghiệp & PTNT , 2010).
Việc phân cấp đê dựa vào tiêu chí sau: (1) Số dân được đê bảo vệ; (2) Tầm quan trọng về quốc phòng, an ninh, kinh tế - xã hội; (3) Đặc điểm lũ, bão của từng vùng; (4) Diện tích và phạm vi địa giới hành chính; (5) Độ ngập sâu trung bình của các khu dân cư so với mực nước lũ thiết kế; và (6) Lưu lượng lũ thiết kế. Cụ thể, phân cấp đê như sau: 7 Bảng 1.1: Phân cấp đê theo số dân và diện tích được bảo vệ Đê sông Đê biển và đê cửa sông Số dân được đê bảo vệ (người) Diện Số dân được đê bảo vệ (người) Diện tích tích bảo bảo vệ 1.000 Dưới khỏi ngập Trên Dưới Trên đến trên đến trên đến trên ngập đến trên đến trên đến lụt (ha) 1.000 Trên I I II II II Trên I I II III III 150.000 I II II III III 100.000 II II III III III đến trên đến trên 60.000 đến I II II III IV 50.000 III III III III IV trên đến trên 15.000 đến I III III III V 10.000 III III III IV V 4.000 Dưới - - III IV V Dưới III IV IV V V 4.000 Nguồn (Bộ Nông nghiệp & PTNT , Công văn số 4116/BNN-TCTL ngày 13/12/2010) 8 Lưu lượng lũ thiết kế là lưu lượng lũ của một con sông tương ứng với mực nước lũ thiết kế. Phân loại đê sông theo lưu lượng lũ thiết kế cụ thể như sau: Bảng 1.2: Phân cấp đê sông theo lưu lượng lũ thiết kế Đê sông Lưu lượng lũ thiết kế (m3/s) Cấp đê Trên 7.500 đến 500 III – IV Dưới 500 V Nguồn (Bộ Nông nghiệp & PTNT , Công văn số 4116/BNN-TCTL ngày 13/12/2010) Mực nước lũ thiết kế là mực nước lũ làm chuẩn dùng để thiết kế đê và công trình liên quan, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt Bảng 1.3: Phân cấp đê theo độ ngập sâu trung bình của các khu dân cư so với mực nước thiết kế Đê sông Đê biển và đê cửa sông Độ ngập sâu Độ ngập sâu trung trung bình của bình của các khu các khu dân cư Cấp đê Cấp đê dân cư so với mực so với mực nước lũ thiết kế (m) nước triều thiết kế (m) Trên 3m I - II Trên 3m I - II Từ 2m đến 3m II - III Từ 2m đến 3m II - III Từ 1m đến 2m III - IV Từ 1m đến 2m III - IV Dưới 1m V Dưới 1m V Nguồn (Bộ Nông nghiệp & PTNT , Công văn số 4116/BNN-TCTL ngày 13/12/2010) Ngoài ra, các loại đê bao, đê chuyên dùng được phân cấp theo mức độ quan trọng của các khu dân cư, đô thị mà tuyến đê đó bảo vệ, đê bối được xếp loại cấp V trong mọi trường hợp theo quy định hiện hành, cụ thể như sau: 9 Bảng 1.4: Phân cấp đê bao, đê bối, đê chuyên dùng Loại đê Khu vực bảo vệ khỏi ngập lụt Cấp đê Đê bao, đê Thành phố, khu công nghiệp, quốc phòng, an III - IV chuyên ninh, kinh tế - xã hội … quan trọng dùng Các trường hợp còn lại IV - V Đê bối Tất cả mọi trường hợp V Nguồn (Bộ Nông nghiệp & PTNT , Công văn số 4116/BNN-TCTL ngày 13/12/2010) 1. Lịch sử hình thành và phát triển hệ thống đê điều ở Việt Nam 1.
Quá trình hình thành và phát triển hệ thống đê điều ở nước ta Việt Nam với địa hình đặc biệt có bờ biển dài dọc theo lãnh thổ, sông suối rất nhiều, trong đó có những con sông quốc tế đến Việt Nam là điểm hạ lưu cuối cùng như sông Hồng, sông Đà, sông Cửu Long,. nên việc phải xây dựng đê để ngăn nước ngập lụt là điều tất yếu và đương nhiên cũng phải bền vững, quy mô hơn so với đê của các nước trên thế giới. Việt Nam là một nước có hệ thống sông ngòi dày đặc trải đều trên toàn quốc.360 con sông có chiều dài trên 10 km, số lượng sông nhỏ và ngắn chiếm 93%, sông ngòi nước ta chảy theo hai hướng chính là Tây Bắc – Đông Nam và hướng vòng cung. Lưu lượng nước của dòng chảy chia làm hai mùa rõ rệt là mùa lũ và mùa cạn, lượng nước mùa lũ chiếm từ 70-80% lượng nước cả năm.
Hàng năm hệ thống sông ngòi của nước ta vận chuyển khoảng 839 tỷ m3 nước, bồi đắp khoảng 200 triệu tấn phù sa/ năm (Phạm Văn Đồng, 2018). Các khu dân cư, thành phố và vùng nông nghiệp thường phát triển dọc theo các vùng ven sông tạo sự thuận lợi trong phát triển nông nghiệp nhưng luôn tiềm ẩn mối đe dọa từ các yếu tố lũ và nguy cơ ngập lụt. Xuyên suốt lịch sử, ông cha ta đã chú trọng, quan tâm phát triển đê điều từ rất sớm. Hệ thống đê điều châu thổ sông Hồng đã có lịch sử trên 2000 năm.
Đê Cơ Xá là con đê đầu tiên được vua Lý Nhân Tông (1072-1127) cho xây dựng vào tháng 3 năm Mậu Tý (1108) dài 30 km; Năm Mậu Thân (1248) vua Trần Thái Tông đắp đê ở hai bên bờ sông Hồng từ đầu nguồn tới biển, gọi là Đê Quai Vạc. Dưới triều Lê sơ (1428- 10 1527) những con đê lớn hơn được đắp mới, và tân tạo hệ thống đê cũ trên hai bờ sông Nhị Hà bằng đá vững chắc (Ngọc An, 2018). Thiết lập đê biển được ghi trong lịch sử đầu tiên là vào cuối nhà Trần, khi mà Hồ Quý Ly cải tổ lại điền địa. Đến thời Vua Lê Thánh Tông (1460-1497) đặt ra quan “Hà Đê” để lo đê điều và quan Khuyến Nông để phát triển nông nghiệp.
Dưới triều Lê sơ (1428-1527) những con đê lớn hơn được đắp mới, và tân tạo hệ thống đê cũ trên hai bờ sông Nhị Hà (sông Hồng) bằng đá vững chắc. Do chiến tranh thường xuyên xảy ra trong thời Lê, Mạc, Trịnh Nguyễn phân tranh nên hệ thống đê điều của chúng ta bị hư hại nhiều. 30 năm đầu triều Nguyễn đã đắp 580km đê mới. Hệ thống đê sông và đê biển của nước ta thực sự được quan tâm hoàn chỉnh thêm kể từ ngày hòa bình lập lại đến nay.
Hiện trạng hệ thống đê điều ở nước ta i). Hiện trạng đê điều phân theo khu vực Hệ thống đê hiện nay trên cả nước là một hệ thống công trình quy mô lớn với khoảng 13.200 km đê, trong đó có khoảng 10.600 km đê sông và gần 2. Các hệ thống đê sông chính với trên 2.500km đề từ cấp III đến cấp đặc biệt còn lại là đề dưới cấp III và đề chưa được phân cấp. Chia ra bao gồm: Hệ thống đê Bắc bộ và Bắc Trung bộ: dài 5.620 km; Hệ thống đê sông, cửa sông khu vực Trung Bộ và Nam Trung Bộ; 904 km; Hệ thống đê sông, bờ bao khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long: 4075 km (Vũ Hoàng Hưng, 2017).
Hệ thống đê biển của Việt Nam trong những năm vừa qua đã được quan tâm đầu tư và củng cố, tuy nhiên những tuyến đê mới chỉ chống được bão cấp 9 và mực nước triều tần suất 5%. Hiện nay, đã xây dựng khoảng 23.000 km bờ bao và hàng ngàn cống dưới đê, hàng trăm km kè. Hệ thống đê biển Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ đã được nâng cấp, chống đỡ bão cấp 9 ứng với mức triều trung bình (Lê Xuân Roanh ,2007). Đã hình thành gần 3000km đê biển chống được thuỷ triều (3,5m).
Đê được chia làm 4 hệ thống chính: Hệ thống đê sông Hồng: Có tổng chiều dài là 1.314 km, (Trần Văn Tư, Đào Minh Đức (2010), trong đó: - Đê cấp đặc biệt (đê nội thành Hà Nội) : 37,09km - Đê cấp I : 388,2 km - Đê cấp II : 376,9 km 11 - Đê cấp III : 510, 9 km Hệ thống đê sông Thái Bình: Có tổng chiều dài là 698 km, trong đó: - Đê cấp I : 73,9 km - Đê cấp II : 148,0 km - Đê cấp III : 475,3 km Hình 1.1: Bản đồ hệ thống đê sông Hồng, Sông Thái Bình Hệ thống đê sông Mã, sông Cả: Có tổng chiều dài là 381,47km, trong đó chiều dài đê thuộc hệ thống sông Mã, sông Chu là 316,1km; chiều dài đê thuộc hệ thống sông Cả, sông La là 65,4km. Hệ thống đê biển của các tỉnh Bắc Bộ: Có tổng chiều dài là 312km, trong đó Hải Phòng là 49,4km; Thái Bình là 137,3km, Thái Nguyên là 49,0km và Quảng Ninh là 34km.