đặt vấn đề, ". nếu chúng ta xét sản phẩm hàng hóa mà xã hội cung cấp trong một năm, thì chúng ta sẽ thấy rõ quá trình tái sản xuất của tư bản xã hội diễn ra như thế nào, những đặc trưng nào phân biệt quá trình tái sản xuất đó với quá trình tái sản xuất của một tư bản cá biệt, và những đặc điểm nào là chung cho cả hai”, đối tượng nghiên cứu của ông ở đây chính là xem xét quá trình tái sản xuất về mặt hoàn lại giá trị cũng như về mặt thay thế hình thái hiện vật của các bộ phận cấu thành của hàng hóa trên phạm vi toàn xã hội. Điểm xuất phát của tái sản xuất trên quy mô xã hội bao giờ cũng là tái sản xuất giản đơn, tức là tái sản theo quy mô như cũ, là một sự trừu tượng trong chừng mực”, tức là phải có những giả định có vẻ lạ lùng rằng “một mặt, trên cơ sở sản xuất tư bản chủ nghĩa, việc không có tích lũy hay không có tái sản xuất mở rộng” và “mắt khác. năm nay cũng như năm ngoái, một tư bản xã hội có một giá trị nhất định vẫn chỉ cung cấp có một khối lượng giá trị hàng hóa như cũ, và cũng vẫn thỏa mãn một số lượng nhu cầu như 17 trước thôi” (trang 578).
18 Nhiệm vụ nghiên cứu tái sản xuất giản đơn trong chương này được Mác vạch rõ ở trang 576. "Vấn đề trực tiếp đặt ra ở đây là như sau: tư bản đã tiêu dùng trong sản xuất được hoàn lại như thế nào về mặt giá trị từ trong số sản phẩm hàng năm, và quá trình hoàn lại đó quyện chặt như thế nào với việc nhà tư bản tiêu dùng giá trị thặng dư và việc công nhân tiêu dùng tiền công? Vậy trước hết, đây là nói đến vấn đề tái sản xuất giản đơn”. Hai khu vực của sản xuất xã hội Trước hết, cần chú ý là trong chương này và các chương về sau của bản dịch tiếng Việt, khái niệm về những sản phẩm sản xuất ra nhằm đáp ứng những nhu cầu tiêu dùng trực tiếp cho cá nhân có thể mang những tên gọi khác nhau như tư liệu tiêu dùng, tư liệu sinh hoạt, vật phẩm tiêu dùng hay hàng hóa tiêu dùng. Để thống nhất, chúng tôi sẽ chỉ sử dụng tên gọi tư liệu tiêu dùng hoặc tư liệu sinh hoạt trong khi trình bày, trừ những chỗ phải trích dẫn nguyên văn quan điểm của Mác theo bản dịch.
Chúng tôi cũng sử dụng các ký hiệu trong những công thức của Mác đúng như bản dịch đã sử dụng để người đọc dễ theo dõi và tránh việc phải suy diễn một cách khó khăn, - Theo quan niệm của Mác, để nghiên cứu lưu thông của tư bản trên phạm vi xã hội, cần phân chia toàn bộ sản phẩm xã hội, do đó cả toàn bộ sản xuất xã hội, thành hai khu vực lớn: “1 Tư liệu sản xuất, tức là những hàng hóa có một hình thái khiến Xuất phát từ tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa.Mác coi hai mặt giá trị và hiện vật của tổng sản phẩm xã hội là hai tiền đề lý luận quan trọng để nghiên cứu tái sản xuất tư bản xã hội. 19 Nếu trong tái sản xuất ở các doanh nghiệp cá biệt, mặt giá trị có vai trò quan trọng thì trong tái sản xuất tư bản xã hội, với tư cách tổng hòa hành vi tái sản xuất của các doanh nghiệp cá biệt, mặt hiện vật của tổng sản phẩm xã hội lại có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Là hiện vật của tổng sản phẩm xã hội được C.Mác phân chia thành hai loại: tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng, do đó nền sản xuất xã hội được chia thành hai khu vực: Khu vực I: Sản xuất tư liệu sản xuất, tức là những hàng hóa có moọt hình thái khiến cho chúng phải – hay ít ra cũng có thể - đi vào tiêu dùng sản xuất Khu vực II: Sản xuất tư liệu tiêu dùng, tức là những hàng hóa có một hình thái khiến cho chúng đi vào tiêu dùng cá nhân của giai cấp các nhà tư bản và của giai cấp công nhân Trên thực tế, ranh giới giữa khu vực I và II không phải lúc nào cũng rõ ràng. Có thể một số ngành vừa thuộc khu vực I, vừa thuộc khu vực II, than vừa sản xuất ra để luyện thép, vừa sản xuất để làm chất đốt cho tiêu dùng hàng ngày của nhân dân: hay là ngành nông nghiệp, xét về mặt sản xuất ra lúa, gạo, thịt, sữa, v.
trực tiếp phục vụ cho tiêu dùng của con người thì thuộc khu vực II, nhưng nếu xét về mặt sản xuất ra nguyên liệu, phục vụ cho công nghiệp chế biến thì nó lại thuộc khu vực I. - Tư bản xã hội Tư bản xã hội là tổng hợp cảc tư bản cá biệt của xã hội vận động đan xen nhau, liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau. Tham gia vận động của tư bản xã hội có cả tư bản công nghiệp, tư bản thương nghiệp, tư bản ngân hàng. Nhưng ở đây nghiên cứu trừu tượng về tái sản xuất và lưu thông của tư bản xã hội, nên C.Mác đã khẳng định tư bản công nghiệp vẫn là một thể thống nhất, chưa xét từng loại tư bản cụ thể.
- Những giá định của C. Mác khi nghiên cứu tái sản xuất tư bản xã hội. Khi nghiên cứu tái sản xuất tư bản xã hội, C.Mác đã nêu ra năm giả định sau đây: (1) Toàn bộ nền kinh tế trong nước là nền kinh tế tư bản chủ nghĩa thuần túy, nghĩa 20 là mối quan hệ kinh tế trong xã hội chỉ gồm có mối quan hệ giữa tư bản với công nhân. 21 (2) Hàng hóa luôn được mua và bán theo đúng giá trị, giá cả phù hợp với giá trị.
(3) Cấu tạo hữu cơ của tư bản không đổi. (4) Toàn bộ tư bản cố định đều chuyển hết giá trị của nó vào sản phẩm trong một năm. (5) Không xét đến ngoại thương. Những giá định đó chỉ nhằm mục đích đơn giản hóa việc tính toán chứ không hề xuyên tạc bản chất của vấn đề nghiên cứu, vì vậy, đó là những giả định khoa học.
Để làm rõ quá trình tái sản xuất xã hội, C.Mác phân tích 2 mô hình tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng. Qua phân tích, C.Mác chỉ ra các điều kiện để thực hiện tổng sản phẩm xã hội, trước hết trong mô hình TSX giản đơn: Khu vực I: 4000c + 1000v + 1000m = 6000 (tồn tại dưới hình thái hiện vật là TLSX) Khu vực II: 2000c + 500v + 500m = 3000 (tồn tại dưới hình thái hiện vật hiện vật là tư liệu tiêu dùng) Như vậy là TSPXH hàng năm (KVI + KVII) là 9000. Quan hệ trao đổi giữa 2 khu vực có thể biểu diễn như sau: I(1000v + 100m) = IIc Với việc thực hiện trao đổi như trên sản xuất năm sau sẽ được lặp lại và theo quy mô cũ. Trao đổi giữa hai khu vực Trong tái sản xuất giản đơn, toàn bộ giá trị thặng dư được sử dụng hết cho tiêu dùng cá nhân của nhà tư bản.
Vì vậy, để nghiên cứu điều kiện thực hiện tổng sản phẩm xã hội, 22 quan hệ giữa tổng cung và tổng cầu về tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng trong tái sản xuất giản đơn.Mác đưa ra mô hình sau: Khu vực I: 4. Khu vực II: 2. Tổng sản phẩm xã hội là 9. Trao đổi giữa 2 khu vực tức là trao đổi bộ phận I (v+m) của khu vực I với bộ phận IIc của khu vực II: - Nhờ sự trao đổi này mà các nhà tư bản thuộc khu vực II đã chuyển hóa trở lại số tư bản bất biến của họ từ hình thái vật phẩm tiêu dùng thành hình thái tư liệu sản xuất để có thể tiêsp tục sản xuất ở giai đoạn mới, mặt khác, các nhà tư bản và công nhân của khu vực I lại chuyển hóa được 2000 số vật phẩm dưới hình thái tư liệu sản xuất thành hình thái tư liệu tiêu dùng để thỏa mã nhu cầu sinh hoạt và có thể tiếp tục sản xuất ở khu vực của mình.
- Mác khái quát như sau: “ Như vậy là trong trường hợp tái sản xuất giản đơn, tổng số giá trị v+m của tư bản hàng hóa của khu vực I ( do đó, cả một bộ phận tỷ lệ tương ứng của tổng sản phẩm hàng hóa của khu vực I ) phải bằng tư bản bất biến IIc tư bản này cũng tách thành một bộ phận tương ứng của tổng sản phẩm hàng hóa của khu vực II. - Dêc dàng suy ra được điều kiện để trao đổi có thể diễn ra giữ hai khu vực phải là: I (v + m) = IIc 4. Trao đổi trong nội bộ khu vực II: Điểm khác biệt ở khu vực II là sản phẩm hiện vật của nó là những tư liệu tiêu dùng lại có thể được sản xuất ở hai khu vực nhỏ mà Mác gọi là khu vực IIa và khu vực IIb. Trong đó, IIa là khu vực sản xuất các tư liệu tiêu dùng thiết yếu, vừa để phục vụ tiêu dùng của cả 23 nhà tư bản lẫn công nhân, còn IIb là khu vực sản xuất các tư liệu tiêu dùng xa xỉ chỉ để phục vụ tiêu dùng của các nhà tư bản.
Kết thúc việc nghiên cứu trao đổi nội bộ trong khu vực II, tức là trao đổi giữa khu vực sản xuất các tư liệu sinh hoạt thiết yếu và khu vực sản xuất các tư liệu sinh hoạt xa xỉ, Mác có những lập luận rất đáng chú ý về tiêu dùng các hàng hóa xa xỉ phẩm. Điều thú vị là, theo Mác, trong những thời kỳ phồn thịnh, và nhất là vào lúc nạn đầu cơ lan tràn, khi giá trị tương đối của tiền biển hiện trong hàng hóa sụt giảm không phải do sự sụt giảm giá trị thật sự, còn giá cả hàng hóa tăng lên một cách độc lập với bản thân hàng hóa, thì công nhân lại có thể tiêu dùng cả những hàng hóa xa xỉ. Mác viết như sau: “ Trong thời kỳ này, không phải chỉ có việc tiêu dùng những tư liệu sinh hoạt cần thiết mới tăng lên: giai cấp công nhân… cũng nhất thời tham gia tiêu dùng những xa xỉ phẩm là những hàng mà bình thường họ không có khả năng tiêu thụ; ngoài ra, họ còn tham gia tiêu dùng những loại vật phẩm tiêu dùng cần thiết mà trong điều kiệ bình thường thì phần lớn chỉ “ cần thiết” cho giai cấp các nhà tư bản thôi, hiện tượng này, đến lượt nó lại làm cho giá cả tăng lên” Nhưng sự thay đổi này trong tình hình tiêu dùng của xã hội lại báo trước những cuộc khủng hoảng.