Lý luận C.Mac về tái sản xuất và lưu thông tổng tư bản xã hội: Vận dụng vào Việt Nam
2021
Phí lưu trữ
30 PointMục lục chi tiết
Tóm tắt
I. Tổng quan về tái sản xuất và lưu thông tổng tư bản
Lý luận về tái sản xuất và lưu thông tổng tư bản xã hội, được C.Mác đề cập đến trong bộ Tư bản, Quyển II, Phần thứ ba, gồm 4 chương (XVIII - XXI). Phần này tập trung nghiên cứu quá trình tuần hoàn, loại bỏ các yếu tố không liên quan đến sự thay đổi và cấu thành các hình thái tư bản. Mục đích nghiên cứu là làm rõ quan điểm của Mác về quá trình này, góp phần xây dựng các chính sách kinh tế - xã hội hiệu quả. Theo C.Mác, việc nghiên cứu tái sản xuất và lưu thông đòi hỏi phương pháp trừu tượng khoa học, sử dụng phép biện chứng duy vật để phân tích và giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội hiện đại. Quá trình tái sản xuất của tư bản bao gồm cả quá trình sản xuất trực tiếp và hai giai đoạn của quá trình lưu thông. Điều kiện để quá trình sản xuất không ngừng đổi mới là sự chuyển hóa của tư bản trong quá trình lưu thông. Mác nêu rõ quan niệm của mình về tư bản xã hội, nhấn mạnh rằng sự vận động của tư bản xã hội bao gồm toàn bộ những sự vận động của những phân số đã tách riêng ra của nó, tức là gồm toàn những chu chuyển của các tư bản cá biệt. Trong lưu thông hàng hóa giản đơn, toàn bộ sự biến hóa hình thái của một hàng hóa là một khâu trong cái chuỗi những biến hóa hình thái của tư bản xã hội. Tuy nhiên, lưu thông hàng hoá giản đơn hoàn toàn không nhất thiết phải bao hàm lưu thông của tư bản vì lưu thông hàng hóa giản đơn có thể diễn ra trên cơ sở một nền sản xuất không phải là tư bản xã hội lại bao hàm cả lưu thông hàng hóa không nằm trong tuần hoán của tư bản cá biệt, tức là cũng bao hàm cả lưu thông của những hàng hóa không phải là tư bản.
1.1. Đối tượng nghiên cứu của tái sản xuất tổng tư bản
Đối tượng nghiên cứu chính là quá trình lưu thông của những tư bản cá biệt (xét về toàn thể thì quá trình lưu thông này là một hình thái của quá trình tái sản xuất) với tư cách là những bộ phận cấu thành của tổng tư bản xã hội, tức là xét quá trình lưu thông của tư bản xã hội đó. Quá trình sản xuất trực tiếp của tư bản là quá trình lao động và quá trình tăng thêm giá trị của tư bản, nghĩa là một quá trình mà kết quả là sản phẩm hàng hóa và động cơ quyết định của nó là sản xuất ra giá trị thặng dư. Mặt khác, quá trình sản xuất không ngừng đổi mới là điều kiện cho những sự chuyển hóa mà tư bản cứ không ngừng trai qua trong lĩnh vực lưu thông, nghĩa là điều kiện để cho tư bản lần lượt xuất hiện khi thì dưới hình thái tư bản tiền tệ khi thì dưới hình thái tuư bản hàng hóa. Toàn bộ quá trình đó bao gồm cả sự tiêu dùng sản xuất ( quá trình sản xuất trực tiếp) với những sự chuyển hóa hình thái ( tức là những sự trao đổi, nếu xét sự việc về mặt vật chất) làm môi giới cho sự tiêu dùng sản xuất đo, lẫn sự tiêu dùng cá nhân với những ự chuyeẻn hóa hình thái, hay những sự trao đổi, làm môi giới cho sự tiêu dùng này.
1.2. Vai trò của tư bản tiền tệ trong lưu thông hàng hóa
Vai trò của tư bản tiền tệ: Trong phần này, Mác nhắc lại một số quan điểm về tư bản tiền tệ đã được nghiên cứu từ trước. Ông nói rằng, khi nghiên cứu chu chuyển của tư bản cá biệt, chúng ta đã tìm ra 2 mặt của tư bản tiền tệ sau đây: Thứ nhất, nó là cái hình thái trong đó mọi tư bản cá biệt xuất hiện và mở đầu quá trình của nó với tư cách là tư bản. Vì vậy, nó là primus motor thúc đẩy toàn bộ quá trình. Thứ hai, tùy theo độ dài khác nhau của thời kỳ chu chuyển và tùy theo tỷ lệ khác nhau giữa hai bộ phận cấu thành của thời kỳ chu chuyển đó – thời kỳ lao động và thời kỳ lưu thông – mà đại lượng tương đối của cái bộ phận cấu thành gía trị tư bản ứng trước phải luôn luôn được ứng ra và đổi mới dưới hình thái tiền, cũng biến đổi so với một quy mô sản xuất không thể thay đổi. Nhưng dù tỷ lệ đó là như thế nào chăng nữa, thì mọi trường hợp, cái bộ phận giá trị tư bản sản xuất vẫn bị giới hạn bởi bộ phận giá trị tư bản ứng trước luôn luôn phải tồn tại dưới hình thái tiền bên cạnh tư bản sản xuất. Về điểm thứ nhất, có sản xuất hàng hóa thì ắt có lưu thông hàng hóa, và lưu thông hàng hóa giả định rằng hàng hóa biểu hiện dưới hình thái tiền, nghĩa là giả định có lưu thông tiền tệ: việc hàng hóa phân thành hàng hóa và tiền là một quy luật biểu hiện sản phẩm với tư cách là hàng hóa.
II. Những quan điểm trước Mác về tái sản xuất xã hội
Trước C.Mác, nhiều nhà kinh tế đã đưa ra các quan điểm khác nhau về tái sản xuất tư bản xã hội. Mác nghiên cứu các quan điểm của một số nhà kinh tế về vấn đề tái sản xuất cuar tư bản xã hội, bao gồm phái trọng nông, A.Smith, Ri-các-đô và những người khác,… trong đó sự phê phán chủ yếu dành cho A. Chính sự phê phán này mà Mác dần dần trình bày lý luận riêng của mình về vấn đề lưu thông tổng sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng. Mác đánh giá cao đóng góp của phái trọng nông, đặc biệt là Biểu kinh tế của F.Quesnay, coi đây là cố gắng đầu tiên trong lịch sử phân tích xem sản phẩm hàng năm của nền sản xuất quốc dân được phân phối qua lưu thông như thế nào để có thể tiến hành được tái sản xuất giản đơn sản phẩm đó. Tuy nhiên, Xmít lại có bước thụt lùi so với phái trọng nông. Ông chỉ nói đến tái sản xuất giản đơn mà không đề cập đến tái sản xuất mở rộng hay tích lũy. Mác đã phê phán sai lầm của Xmít liên quan đến cái mà ông gọi là “Giáo điều Xmít”, theo đó, giá trị được phân giải thành các thu nhập, bộ phận tư bản bất biến bị gạt khỏi toàn bộ tổng sản phẩm xã hội và tích lũy tư bản chủ nghĩa bị phủ nhận trên thực tế.
2.1. Đóng góp và hạn chế của phái trọng nông
Mác đánh giá cao đóng góp của phái trọng nông cho vấn đề nghiên cứu tái sản xuất trên quy mô xã hội. Đặc biệt, thành tựu nổi bật của những người trong nông tập trung ở Biểu kinh tês của F.Quesnay được Mác coi là cố gắng đầu tiên trong lịch sử phân tích xem sản phârm hàng năm của nền sản xuất quốc dân được phân phối qua lưu thông như thế nào để có thể tiến hành được tái sản xuất giản đơn sản phẩm đó. Mặc dù bị giới hạn bởi tầm mắt của người trọng nông, những người coi nông nghiệp là lĩnh vực duy nhất đầu tư lao động của con người, lĩnh vực tạo ra giá trị thặng dư, tức là lĩnh vực duy nhất thực sự có tính chất sản xuất của lao động, phân tích của những người trọng nông đối với lưu thông sản phẩm hàng năm của nền sản xuất xã hội lại đạt được những ưu thế hơn hẳn so với nhiều người đương thời.
2.2. Phê phán A.Smith về tái sản xuất và tích lũy
Rất tiếc là trong lĩnh vực tái sản xuất tư bản xã hội và lý luận về thực hiện tổng sản phẩm xã hội, Xmít lại làm những bước thụt lùi so với những người trọng nông. Điều này đã được Mác chỉ rõ trong hàng loạt vấn đề. Nhìn một cách khái quát, Mác viết: “Bước thụt lùi của A. Xmít trong sự phân tích quá trình tái sản xuất lại càng nổi bật khi ông ta không phải chỉ phát triển những sự phân tích đúng đắn của Kê-ne., mà thậm chí đôi chỗ ông ta còn hoàn toàn rơi vào những sai lầm của phái trọng nông" (trang 528). Xmít chỉ nói đến tái sản xuất giản đơn, chứ không nói đến tái sản xuất mở rộng hay tích lũy, chỉ nói đến những chi phí “bảo tồn” tư bản đang hoạt động.
2.3. Giáo điều A.Smith và những sai lầm
Nhân phê phán Xmít, Mác cũng trình bày luôn quan điểm của mình về tư bản cố định và tự bản lưu động. Ở trang 537 ta đọc thấy những quan điểm sau đây của ông: Cũng giống như tư bản cố định và tư bản lưu động cần thiết để tái sản xuất và bảo tồn tư bản cố định., tư bản lưu động của mỗi một nhà tư bản cá biệt hoạt động trong lĩnh vực sản xuất vật phẩm tiêu dùng cũng hoàn toàn bị gạt ra ngoài thu nhập ròng của hắn là thu nhập chỉ có thể gồm có lợi nhuận của hắn thôi. Vậy trong sản phẩm hàng hóa của hắn, bộ phận thay thế tư bản của hắn không thể phân giải thành những bộ phận cấu thành giá trị hình thành thu nhập của hắn được.
III. Tái sản xuất giản đơn Điều kiện và trao đổi khu vực
Tái sản xuất giản đơn là tái sản xuất theo quy mô như cũ, một sự trừu tượng trong chừng mực, tức là phải có những giả định có vẻ lạ lùng rằng “một mặt, trên cơ sở sản xuất tư bản chủ nghĩa, việc không có tích lũy hay không có tái sản xuất mở rộng” và “mắt khác. năm nay cũng như năm ngoái, một tư bản xã hội có một giá trị nhất định vẫn chỉ cung cấp có một khối lượng giá trị hàng hóa như cũ, và cũng vẫn thỏa mãn một số lượng nhu cầu như trước thôi. Nhiệm vụ nghiên cứu tái sản xuất giản đơn là xem xét quá trình tái sản xuất về mặt hoàn lại giá trị cũng như về mặt thay thế hình thái hiện vật của các bộ phận cấu thành của hàng hóa trên phạm vi toàn xã hội. Để nghiên cứu lưu thông của tư bản trên phạm vi xã hội, cần phân chia toàn bộ sản phẩm xã hội, do đó cả toàn bộ sản xuất xã hội, thành hai khu vực lớn: khu vực I sản xuất tư liệu sản xuất và khu vực II sản xuất tư liệu tiêu dùng. Quan hệ trao đổi giữa 2 khu vực có thể biểu diễn như sau: I(1000v + 100m) = IIc. Với việc thực hiện trao đổi như trên sản xuất năm sau sẽ được lặp lại và theo quy mô cũ.
3.1. Phân chia hai khu vực sản xuất xã hội
Theo quan niệm của Mác, để nghiên cứu lưu thông của tư bản trên phạm vi xã hội, cần phân chia toàn bộ sản phẩm xã hội, do đó cả toàn bộ sản xuất xã hội, thành hai khu vực lớn: “1 Tư liệu sản xuất, tức là những hàng hóa có một hình thái khiến Xuất phát từ tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa.Mác coi hai mặt giá trị và hiện vật của tổng sản phẩm xã hội là hai tiền đề lý luận quan trọng để nghiên cứu tái sản xuất tư bản xã hội.
3.2. Điều kiện trao đổi giữa hai khu vực trong giản đơn
Trong tái sản xuất giản đơn, toàn bộ giá trị thặng dư được sử dụng hết cho tiêu dùng cá nhân của nhà tư bản. Vì vậy, để nghiên cứu điều kiện thực hiện tổng sản phẩm xã hội, quan hệ giữa tổng cung và tổng cầu về tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng trong tái sản xuất giản đơn.Mác đưa ra mô hình sau: Khu vực I: 4. Khu vực II: 2. Tổng sản phẩm xã hội là 9. Trao đổi giữa 2 khu vực tức là trao đổi bộ phận I (v+m) của khu vực I với bộ phận IIc của khu vực II.
IV. Tái sản xuất mở rộng Tích lũy và sơ đồ minh họa
Khi chuyển việc nghiên cứu từ tái sản xuất giản đơn sang tái sản xuất mở rộng, C.Mác lưu ý rằng, tích lũy tư bản nhằm mở rộng sản xuất có thể chỉ diễn ra ở dạng tiềm thế mà chưa phải là tích lũy thực tế, khi các nhà tư bản thực hiện tích trữ tiền trước khi đưa nó trở lại lưu thông để mua tư liệu sản xuất và sức lao động phụ thêm để mở rộng quy mô sản xuất. Do đó, ông cho rằng, khi nghiên cứu tái sản xuất mở rộng, không thể không nghiên cứu việc tích trữ tiền. Để nghiên cứu tái sản xuất mở rộng trên quy mô toàn xã hội, Mác bắt tay vào nghiên cứu tích lũy trong khu vực I trước tiên, sau đó chuyển sang nghiên cứu tích của khu vực II và rút ra những nhận xét chung về quá trình tích lũy, tái sản xuất mở rộng của tư bản . Phục vụ cho việc nghiên cứu ở chương này, Mác cũng sử dụng nhiều mô hình sơ đồ để việc theo dõi được thuận tiện và có ý nghĩa thực tế hơn
4.1. Tích lũy tiền và vai trò của hệ thống tín dụng
Nhận xét về tình hình tích trữ tiền trong khu vực I , Mác viết như sau : “ . những tư bản cá biệt khác nhau đầu tư trong mỗi nghành công nghiệp. đều ở vào những giai đoạn khác nhau của quá trình chuyển khóa dần dần giá trị thặng dư thành tư bản tiền tệ tiềm thế . Vì vậy , một nhóm nhà tư bản không ngừng chuyển hóa tư bản tiền tệ tiềm thế của họ thành tư bản sản xuất , khi tư bản ấy đã đạt tới khối lượng cần thiết . trong lúc đó thì một nhóm nhà tư bản khác lại đang bận vào việc tích trữ tư bản tiền tệ tiềm thế của họ . Vậy những nhà tư bản thuộc hai loại đó đứng đối diện với nhau : một loại là người mua , một loại là người bán , và mỗi loại chỉ đóng có một vai trò đó thôi (trang 719) Mác cũng cho rằng khi chế độ tín dụng đã phát triển, tư bản tiền tệ tiềm thế của các nhà tư bản sẽ được tích tụ trong tay các ngân hàng và trở thành tư bản có thể tự do chi phối, thành tư bản tiền tệ hoạt động , tức là tư bản xã hội . Như vậy , tín dụng có vai trò rất quan trọng trong việc tập hợp nguồn vốn – tư bản tiền tệ phục vụ tích lũy tư bản chủ nghĩ
4.2. Điều kiện để tích lũy và mở rộng sản xuất
Mác nhận định rằng “ Khó khăn đầu tiên đối với bộ phận Iic tức là việc nó từ chỗ là một bộ phận cáu thành tư bản hàng hóa của khu vực II chuyển hóa trở lại thành tư bản bất biến cuar khu vực II dưới hình thái vật của nó…”. Và Mác kết luận: “Như vậy, ở khu vực II sẽ có sản xuất thừa với quy mô vừa đúng với quy mô sự mở rộng sản xuất diễn ra ở khu vực I” Khó khăn nới trên không thể giải thích được nếu coi 500 IIc nằm trong kho của csac nhà tư bản không chuyển hóa trực tiếp thành tư bản sản xuất là cấu thành một yếu tố cần thiết cuar tái sản xuất như một số người đề nghị.
V. Vận dụng lý luận tái sản xuất vào tăng trưởng Việt Nam
Lý luận tái sản xuất tư bản xã hội của C.Mác đã đặt nền móng cho mô hình tăng trưởng kinh tế hiện đại với sự chuyển đổi nền kinh tế sang chủ yếu tăng trưởng theo chiều sâu, thể hiện sự thay đổi vị trí, vai trò của các yếu tố sản xuất. Từ những nghiên cứu về lý luận tái sản xuất của C.Mác có thể rút ra một số định hướng vận dụng vào xây dựng mô hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam như sau: Về bảo đảm sự cân đối giữa hai khu vực của nền kinh tế: Nghiên cứu những điều kiện thực hiện tổng sản phẩm xã hội trong điều kiện TSX giản đơn và TSX mở rộng của nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa C.Mác đã chỉ rõ, để quá trình tái sản xuất xã hội trong kinh tế thị trường có thể diễn ra bình thường, ổn định thì phải tuân thủ những tính quy luật nhất định bảo đảm cân đối kinh tế cơ bản trong tái sản xuất xã hội.
5.1. Bảo đảm cân đối giữa hai khu vực kinh tế Việt Nam
Trong điều kiện nền kinh tế vận hành tự phát theo cơ chế thị trường, những cân đối kinh tế kể trên thường xuyên được tự phát thiết lập rồi lại bị phá vỡ. Tuy nhiên, nền kinh tế phải luôn bảo đảm sự cân đối giữa sản xuất và tiêu dùng, cân đối giữa tích lũy và tiêu dùng, cân đối hai khu vực của nền kinh tế.
5.2. Tăng tích lũy để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế chiều sâu
Lý luận tái sản xuất của C.Mác đã chia tư bản thành tư bản bất biến và tư bản khả biến. Theo mô hình này, kết quả cuối cùng của sản xuất đạt được mức độ cao cả về số lượng và chất lượng nhưng lại sử dụng tiết kiệm các loại tài nguyên thiên nhiên, nguyên vật liệu. Theo những chỉ dẫn của C.Mác, để thực hiện mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu, cần chủ động, tích cực nghiên cứu và sử dụng thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất, mà trong điều kiện ngày nay đó là phải chuyển đổi sang nền sản xuất dựa vào các loại công nghệ cao, công nghệ tiết kiệm sức lao động, công nghệ tiết kiệm nguyên vật liệu,.
5.3. Chính sách tài chính và tiền tệ của Việt Nam
Lý thuyết tái sản xuất của C.Mác chỉ rõ, tùy theo thời kỳ chu chuyển dài hay ngắn mà cần có một khối lượng tư bản tiền tệ nhỏ hay lớn để tư bản hoạt động, nghĩa là nền kinh tế phải bảo đảm cân đối về giá trị và hiện vật. Do đó, những công việc kinh doanh có tính chất lâu dài hơn đòi hỏi phải ứng ra một số tư bản tiền tệ lớn hơn cho một thời gian lâu hơn, tuy nhiên trong thời gian đó lại chưa thể cung cấp sản phẩm để thu tiền về, do đó tiền nằm lại trong lưu thông. Vì thế, trong điều kiện đẩy mạnh CNH, HĐH, chuyển đổi mô hình tăng trưởng ở Việt Nam hiện nay, các chủ trương đầu tư của Nhà nước cần tính đến sự cân đối về nguồn lực cho đầu tư và huy động nguồn lực cho phát triển nhằm tạo động lực cho chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu.
VI. Tóm tắt và nhìn lại những nội dung chính của lý thuyết
Những quan điểm và lý luận cảu Mác về tái sản xuất và lưu thông của tổng tư bản có một vai trò quan trọng, cung cấp những cơ sở khoa học, cơ sở lý luận cho sự nghiệp đổi mới nền kinh tế, đưa công cuộc đổi mới ở nước ta phát triển theo định hướng XHCN, thực hiện mục tiêu “ dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh”.
6.1 Tổng kết vai trò tiền tệ các khu vực tái sản xuất
Tái sản xuất giản đơn là tái sản xuất theo quy mô như cũ, một sự trừu tượng trong chừng mực, tức là phải có những giả định có vẻ lạ lùng rằng “một mặt, trên cơ sở sản xuất tư bản chủ nghĩa, việc không có tích lũy hay không có tái sản xuất mở rộng” và “mắt khác. năm nay cũng như năm ngoái, một tư bản xã hội có một giá trị nhất định vẫn chỉ cung cấp có một khối lượng giá trị hàng hóa như cũ, và cũng vẫn thỏa mãn một số lượng nhu cầu như trước thôi. Nhiệm vụ nghiên cứu tái sản xuất giản đơn là xem xét quá trình tái sản xuất về mặt hoàn lại giá trị cũng như về mặt thay thế hình thái hiện vật của các bộ phận cấu thành của hàng hóa trên phạm vi toàn xã hội. Để nghiên cứu lưu thông của tư bản trên phạm vi xã hội, cần phân chia toàn bộ sản phẩm xã hội, do đó cả toàn bộ sản xuất xã hội, thành hai khu vực lớn: khu vực I sản xuất tư liệu sản xuất và khu vực II sản xuất tư liệu tiêu dùng.
6.2 Tăng tích lũy và sự cần thiết
Lý luận tái sản xuất của C.Mác đã chia tư bản thành tư bản bất biến và tư bản khả biến. Theo mô hình này, kết quả cuối cùng của sản xuất đạt được mức độ cao cả về số lượng và chất lượng nhưng lại sử dụng tiết kiệm các loại tài nguyên thiên nhiên, nguyên vật liệu. Theo những chỉ dẫn của C.Mác, để thực hiện mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu, cần chủ động, tích cực nghiên cứu và sử dụng thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất, mà trong điều kiện ngày nay đó là phải chuyển đổi sang nền sản xuất dựa vào các loại công nghệ cao, công nghệ tiết kiệm sức lao động, công nghệ tiết kiệm nguyên vật liệu,.
TÀI LIỆU LIÊN QUAN
Bạn đang xem trước tài liệu:
Lý luận của c mac về tái sản xuất và lưu thông của tổng tư bản xã hội vận dụng lý luận tái sản xuất vào việt nam