Chương 1: Cơ sở lý luận về thực hiện chức năng đại diện CSH vốn nhà nƣớc tại DNNN Chương 2: Thực trạng cơ chế đại diện CSH nhà nƣớc tại doanh nghiệp ở Việt Nam Chương 3: Đề xuất mô hình thực hiện chức năng đại diện CSH vốn nhà nƣớc tại doanh nghiệp phù hợp với điều kiện cụ thể ở Việt Nam. Các kết quả kỳ vọng của luận văn Kỳ vọng luận văn chỉ ra mô hình thực hiện chức năng đại diện CSH vốn nhà nƣớc đối với các DNNN phù hợp với điều kiện thực tế ở Việt Nam, trong đó tập trung vào: - Tách chức năng đại diện CSH vốn nhà nƣớc ra khỏi cơ quan thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nƣớc, - Có cơ quan đầu mối quản lý các TĐKT và các SCIC, - Thành lập thêm các SCIC mới để cùng với SCIC cũ thực hiện bao quát chức năng đại diện CSH vốn nhà nƣớc ở các TCT nhà nƣớc độc lập và các DNNN sản xuất kinh doanh sau chuyển đổi trên cả nƣớc. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHỨC NĂNG ĐẠI DIỆN CHỦ SỞ HỮU VỐN NHÀ NƢỚC TẠI DNNN 1. Đầu tƣ nhà nƣớc trong doanh nghiệp 1.
Mục tiêu đầu tư của nhà nước vào khu vực doanh nghiệp Ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, nhà nƣớc tham gia nền kinh tế thông qua đầu tƣ vốn vào các hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp với quy mô và mức độ khác nhau. Mục đích của nhà nƣớc nhằm đầu tƣ vào những lĩnh vực mà tƣ nhân không muốn hay không thể tham gia nhƣ cung ứng các dịch vụ công, những lĩnh vực an ninh quốc phòng, chủ quyền quốc gia; thực hiện chính sách điều tiết vĩ mô; hay cũng có mục tiêu là đầu tƣ thu lợi nhuận. Có thể gộp thành hai nhóm mục tiêu chính khi nhà nƣớc tham gia đầu tƣ là: (1) nhằm thực hiện mục tiêu chính trị - xã hội; (2) nhằm mục tiêu lợi nhuận. Tuy nhiên, một hoạt động đầu tƣ của nhà nƣớc không có nghĩa chỉ nhằm thực hiện duy nhất một mục tiêu mà có thể bao hàm cả hai mục tiêu trên.
Có hai phƣơng thức đầu tƣ chủ yếu của nhà nƣớc vào doanh nghiệp là: nhà nƣớc đầu tƣ thành lập doanh nghiệp 100% vốn nhà nƣớc; và đầu tƣ dƣới dạng góp vốn, mua cổ phần nhƣ các thành viên, cổ đông của công ty. Tƣơng ứng với các hình thức đầu tƣ đó, mỗi nƣớc có cách gọi riêng là công ty nhà nƣớc và/hoặc DNNN và đa số hoạt động theo sự điều chỉnh của Luật Công ty và/hoặc Luật DNNN. Trong một số DNNN đặc thù, có đạo luật riêng để điều chỉnh, ví dụ doanh nghiệp 100% vốn nhà nƣớc trong lĩnh vực hành chính, công ích, dịch vụ công của Hàn Quốc chịu sự điều chỉnh của Luật Tổ chức Chính phủ, hay ở Niu-di-lân dùng Luật về Tài chính công để điều chỉnh các đơn vị của Hoàng gia (có hoạt động kinh tế nhƣng không tổ chức hình thức công ty hoặc doanh nghiệp sở hữu nhà nƣớc) [2]. Khái niệm DNNN ở Việt Nam Thời kỳ trƣớc năm 1991, DNNN không có địa vị pháp lý độc lập và đƣợc gọi là xí nghiệp quốc doanh.
Năm 1995, Luật DNNN ra đời, địa vị pháp lý của DNNN LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 đƣợc chính thức xác lập. Đó là một tổ chức kinh tế do Nhà nƣớc thành lập, đầu tƣ 100% vốn và quản lý với tƣ cách là CSH, hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do Nhà nƣớc giao. Năm 2003, Luật DNNN mới ra đời thay thế cho Luật DNNN 1995, theo đó, khái niệm DNNN đƣợc quy định trong Điều 1 nhƣ sau: “DNNN là tổ chức kinh tế do Nhà nƣớc sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, đƣợc tổ chức dƣới hình thức công ty nhà nƣớc, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH)”. Nhƣ vậy, khái niệm DNNN theo Luật mới đã đƣợc mở rộng hơn, bao gồm công ty nhà nƣớc (là doanh nghiệp do Nhà nƣớc sở hữu 100% vốn điều lệ) và các doanh nghiệp dƣới các hình thức pháp lý khác, có cổ phần, vốn góp chi phối của Nhà nƣớc từ trên 50%.
Vai trò của khu vực DNNN Trong điều kiện phát triển hiện tại, sự tồn tại và đóng góp của khu vực DNNN trong nền kinh tế của bất kỳ quốc gia nào là không thể phủ nhận. Tuy nhiên, ở mỗi nƣớc, vai trò của DNNN lại ở mức độ khác nhau. Có nƣớc DNNN giữ vai trò quan trọng, chiếm một tỷ lệ đáng kể trong nền kinh tế. Có nƣớc tỷ trọng của Kinh tế nhà nƣớc (KTNN) ở mức thấp hoặc đã giảm đi.
Ở một số nƣớc Tổ chức Hợp tác các nƣớc phát triển (OECD), khối DNNN đóng góp khoảng 20% GDP và 10% tổng số lao động. Ở nhiều quốc gia Trung Âu, sự đóng góp của khu vực KTNN cũng chiếm từ 20-40% GDP [2]. Ở Việt Nam, KTNN giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế. Tuy chƣơng trình tƣ nhân hóa và cổ phần hóa DNNN đƣợc thực hiện nhiều năm nay, nhƣng quy mô của khu vực KTNN còn rất lớn.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1: Số lượng DNNN giai đoạn 1998-2009 (Nguồn: Ban chỉ đạo đổi mới và Phát triển doanh nghiệp[24]) Tính đến hết tháng 10 năm 2009, số lƣợng DNNN mà Nhà nƣớc nắm giữ 100% vốn điều lệ còn khoảng 1.1: Tham gia của khu vực KTNN (%) Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 Cơ cấu 59,19 59,81 58,58 57,25 55,52 53,86 52,04 42,67 33,55 đầu tư Cơ cấu 38,52 38,4 38,38 39,08 39,1 38,4 37,39 35,93 34,35 GDP (Nguồn: Niên giám thống kê tóm tắt 2008 [10]) Năm 2008, đầu tƣ của khu vực nhà nƣớc chiếm hơn 33% đầu tƣ xã hội, hoạt động của khu vực KTNN đóng góp hơn 34% GDP của nền kinh tế. Chức năng quản lý nhà nƣớc đối với DNNN Quản lý nhà nƣớc về kinh tế là sự tham gia hoặc can thiệp của nhà nƣớc ở mức độ khác nhau đối với nền kinh tế. Nhà nƣớc tác động vào thị trƣờng và các tác nhân tham gia thị trƣờng, trƣớc hết là các doanh nghiệp. Sự tham gia hoặc can thiệp của nhà nƣớc vào thị trƣờng hay quản lý nhà nƣớc về kinh tế đã và đang xuất hiện tại tất cả các nƣớc trên thế giới, kể cả ở các nền kinh tế thị trƣờng.
Các học thuyết kinh tế nổi tiếng nhƣ Keynes (đề cao vai trò của nhà nƣớc), trƣờng phái Tự do mới LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 (đặt nặng vai trò của thị trƣờng) hay học thuyết của P.Samuelson, điều tiết kinh tế bằng “hai bàn tay” (kết hợp điều tiết kinh tế thông qua thị trƣờng và nhà nƣớc) đều cho rằng trong nền kinh tế thị trƣờng, cần thiết phải có sự quản lý của nhà nƣớc đối với nền kinh tế. Doanh nghiệp là tế bào của nền kinh tế, cho nên quản lý nhà nƣớc đối với doanh nghiệp là một thành tố quan trọng của quản lý nhà nƣớc về kinh tế. Với tƣ cách cơ quan quyền lực, Nhà nƣớc thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nƣớc đối với tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế; đồng thời với tƣ cách là nhà đầu tƣ vốn vào các doanh nghiệp nên nhà nƣớc còn thực hiện chức năng quản lý của CSH vốn nhà nƣớc tại DNNN. Vì vậy, trong nền kinh tế thị trƣờng, quản lý nhà nƣớc đối với doanh nghiệp bao gồm hai chức năng chính là (1) quản lý hành chính nhà nƣớc đối với doanh nghiệp, và (2) quản lý của CSH vốn nhà nƣớc tại DNNN.
Quản lý nhà nƣớc đối với doanh nghiệp Quản lý hành chính Quản lý của CSH nhà nƣớc đối với vốn nhà nƣớc tại doanh nghiệp DNNN Hình 1.2: Hai chức năng quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp Lƣợc theo nghiên cứu của Trần Tiến Cƣờng (2006) [3], khái niệm, mục tiêu, yêu cầu về hai chức năng quản lý nhà nƣớc đối với doanh nghiệp đƣợc hiểu nhƣ sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Quản lý hành chính nhà nước đối với DNNN là việc tác động của cơ quan quyền lực nhà nƣớc bằng các phƣơng thức, công cụ: pháp luật (ban hành quy định pháp luật và tổ chức thực hiện); chính sách (ban hành chính sách và tổ chức thực hiện); chiến lƣợc, quy hoạch và kế hoạch (ban hành chiến lƣợc, quy hoạch, kế hoạch và tổ chức thực hiện); và bằng bộ máy cơ quan quản lý nhà nƣớc (thực hiện hay ứng xử của công chức, viên chức nhà nƣớc) đối với quá trình hình thành, hoạt động và chấm dứt tồn tại của DNNN. Mục tiêu chủ yếu của quản lý nhà nƣớc đối với doanh nghiệp trong nền kinh tế định hƣớng thị trƣờng là nhằm tạo môi trƣờng hoạt động thuận lợi, bình đẳng, cạnh tranh, đúng pháp luật cho tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Tuy nhiên, đối với DNNN, khi cần có thể phải thực hiện một số những mục tiêu có tính định hƣớng của Nhà nƣớc nhƣng vẫn phải bảo đảm hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà nƣớc đối với doanh nghiệp. Yêu cầu về tổ chức và cán bộ thực hiện chức năng nhiệm vụ quản lý nhà nƣớc phải đƣợc gắn với tổ chức và cán bộ thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nƣớc nói chung (quản lý theo ngành, lĩnh vực; quản lý hỗn hợp theo ngành và theo lĩnh vực; hoặc quản lý theo lãnh thổ).
Ở đây, Nhà nƣớc với tƣ cách là cơ quan công quyền nên nhà nƣớc phải tiến hành quản lý mọi doanh nghiệp trong nền kinh tế. Do đó, nguyên tắc quản lý là nhà nƣớc bảo đảm các doanh nghiệp hoạt động bình đẳng về quyền và nghĩa vụ không phân biệt hình thức sở hữu. Đối với DNNN, Nhà nƣớc bảo đảm hoạt động độc lập với các cơ quan nhà nƣớc, tôn trọng quyền tự chủ về tài chính, chủ động trong kinh doanh của DNNN. Quản lý của CSH vốn nhà nước tại DNNN là việc thực thi các quyền hạn của CSH nhƣ một cổ đông hay thành viên công ty đối với DNNN trong quá trình hoạt động.
Mục tiêu của quản lý CSH vốn nhà nƣớc là tập trung vào hiệu quả kinh doanh; giảm dần sự can thiệp nhà nƣớc vào hoạt động của doanh nghiệp. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Yêu cầu đối với tổ chức và cán bộ thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý của CSH các DNNN là có chuyên môn sâu về hoạt động kinh doanh, đƣợc tách ra khỏi tổ chức và cán bộ thuộc hệ thống công quyền.