Chương 1: Khung lý thuyết về tác động của xử phạt vi phạm hành chính về trật tự an toàn giao thông trên đường cao tốc. Chương 2: Thực trạng tác động của xử phạt vi phạm hành chính về trật tự an toàn giao thông trên các tuyến đường cao tốc tại Việt Nam. Chương 3: Giải pháp tăng cường hiệu quả xử phạt vi phạm hành chính về trật tự an toàn giao thông trên các tuyến đường cao tốc tại Việt Nam nhằm giảm tai nạn giao thông, giảm thiệt hại về người và tài sản. 7 CHƢƠNG 1 KHUNG LÝ THUYẾT VỀ TÁC ĐỘNG CỦA XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH VỀ TRẬT TỰ AN TOÀN GIAO THÔNG TRÊN ĐƢỜNG CAO TỐC 1.
Vấn đề chung về vi phạm hành chính về trật tự an toàn giao thông trên đƣờng cao tốc 1. Đường cao tốc 1. Khái niệm Hiện nay, chưa có một định nghĩa chính thức nào về đường cao tốc được chấp nhận trên phạm vi toàn thế giới, trong đa số các trường hợp, các từ dùng để chỉ đường cao tốc được định nghĩa theo luật địa phương hay theo các chuẩn mực thiết kế. Theo công ước Viên, đường cao tốc được định nghĩa là “Đường cao tốc là một con đường được đặc biệt thiết kế và xây dựng cho giao thông cơ giới, không có công trình vỉa hè và nó có hai phía riêng biệt dành cho hai chiều lưu thông được ngăn cách bởi dải phân cách ngoại trừ những điểm đặc biệt và tạm thời; không có giao cắt ngang bằng với bất kỳ đường nào khác, đường sắt, đường xe điện, lối đi bộ; và có các bảng chỉ đường đặc biệt” (Nguồn: Công ước Viên (1968), Convention on road traffic).
Theo tiêu chuẩn Anh Quốc, “Đường cao tốc là đường đôi có lối ra vào hạn chế, không băng ngang cùng mặt đường với các làn giao thông khác và đặc biệt dành riêng cho một số loại xe cơ giới nào đó sử dụng” (Nguồn: Tiêu chuẩn thiết kế đường cao tốc của Anh). Theo tiêu chuẩn của Nhật Bản, “Đường cao tốc là đường ô tô có tốc độ cao, phân chiều xe chạy nhờ dải phân cách giữa, mỗi chiều có từ 2 làn xe trở lên. Tại các chỗ vào ra đều được khống chế đảm bảo dòng xe chạy liên tục, thuận lợi, an toàn. Mỗi bên đều có làn dừng xe khẩn cấp” (Nguồn: Tiêu chuẩn thiết kế đường cao tốc của Nhật Bản).
8 Theo tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) 5729 – 2012 và khoản 12 điều 3 Luật giao thông đường bộ, đường cao tốc được định nghĩa là “Đường cao tốc là đường dành cho xe cơ giới, có dải phân cách chia đường cho xe chạy hai chiều riêng biệt; không giao nhau cùng mức với một hoặc các đường khác; được bố trí đầy đủ trang thiết bị phục vụ, bảo đảm giao thông liên tục, an toàn, rút ngắn thời gian hành trình và chỉ cho xe ra, vào ở những điểm nhất định”. Vì vậy, có thể coi đường cao tốc là một loại đường bộ chuyên dung. Khác với các đường bộ thông thường, dành cho mọi loại xe, người đi xe thô sơ, đi bộ,… có thể đi vào đường này, đường cao tốc chỉ dành riêng cho xe cơ giới, các loại xe khác bị cấm đi vào đường này. Bên cạnh đó, vì có vận tốc lưu hành cao nên để đảm bảo an toàn, đường cao tốc phải có dải phân cách riêng biệt giữa hai chiều, có làn phòng hộ hai bên đường để người và xe không thể tùy tiện ra vào đường và đường cao tốc khống chế chỉ cho xe ra, vào ở những điểm nhất định.
Đường được lắp đặt đầy đủ trang thiết bị và các biển báo đặc biệt theo tiêu chuẩn riêng của đường cao tốc nhằm phục vụ, bảo đảm giao thông liên tục, an toàn, rút ngắn thời gian di chuyển giữa các điểm mà đường cao tốc đi qua. Đường cao tốc có ít nhất hai làn xe chạy, tùy điều kiện và tình hình giao thông mà số làn xe ở mỗi đường cao tốc có thể bố trí cho phù hợp và thông thường từ 6 – 8 làn xe, ở nhiều nước số làn xe trên các tuyến đường cao tốc có thể lên đến 12 – 16 làn. Do chiều dài quãng đường lớn nên trên đường cao tốc, cách một đoạn cố định phải bố trí các trạm nghỉ hay trạm dừng xe tạm thời phòng khi có sự cố và để phục vụ nhu cầu của người dân trong quá trình lưu hành trên đường. Đặc điểm đường cao tốc Xuất phát từ khái niệm đường cao tốc trên đây, đường cao tốc có một số đặc điểm nổi bật sau: Một là, quãng đường dài: đường cao tốc có thể được xây dựng trong các thành phố hay được xây dựng để kết nối các thành phố, các địa phương, các khu vực với nhau tạo thuận lợi cho việc đi lại.
Vì thế, các tuyến đường cao tốc có thể có chiều dài từ vài chục km đến vài trăm, thậm chí vài nghìn km. Có thể kể đến một số 9 tuyến đường cao tốc nổi bật như đường cao tốc Outback ở Úc dài 2.800 km, đường cao tốc Interstate 90 ở Mỹ dài 4.987 km, hay đường cao tốc Trans Siberi ở Nga với tổng chiều dài hơn 11.000 km,… Hai là, tốc độ lưu hành cao: tốc độ lưu hành trên đường cao tốc ở mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ là khác nhau, nhưng nằm trong khoảng từ 60 km/h đến 120 km/h, ngoài ra còn có những con đường cao tốc không giới hạn tốc độ. Tốc độ trung bình trên các đường cao tốc thực tế cao hơn trên các đường ô tô khác 60 – 70%. Ba là, đảm bảo giao thông liên tục và an toàn: Do đường cao tốc có đặc điểm là không có bất kỳ loại đường nào cắt ngang qua trên cùng mặt đường nên trong mọi điều kiện thời tiết kể cả ban ngày và ban đêm, giao thông trên đường cao tốc luôn đảm bảo sự liên tục và an toàn.
Trên đường cao tốc có hệ thống biển báo quy định phương tiện phải di chuyển với khoảng cách giữa các xe và tốc độ đảm bảo an toàn, bên cạnh đó còn có hệ thống theo dõi, giám sát và thông tin đảm bảo mọi tình trạng của đường cao tốc luôn được cập nhật liên tục và kịp thời đến người tham gia giao thông. Bốn là, tính kinh tế: không một quốc gia tiên tiến nào trên thế giới thiếu vắng mạng lưới đường cao tốc, đặc biệt là các nước phát triển. Với đặc điểm kết nối các thành phố, các vùng kinh tế, các địa phương, thông thương giữa các vùng miền, cùng với tốc độ lưu hành trên đường cao và đảm bảo sự an toàn, đường cao tốc góp phần giảm thời gian lưu hành giữa các điểm, chi phí vận chuyển được tiết kiệm. Để phát triển kinh tế một vùng trước hết phải phát triển hệ thống mạng lưới cơ sở hạ tầng, quan trọng nhất là phát triển hệ thống đường xá để tạo sự kết nối, nâng cao sức cạnh tranh, thu hút sự đầu tư từ bên ngoài.
Vi phạm hành chính về trật tự an toàn giao thông đường bộ 1. Khái niệm Vi phạm hành chính là một loại vi phạm quy định pháp luật xảy ra khá phổ biến hàng ngày trong xã hội, kinh tế, các vi phạm này rất đa dạng và phong phú bao gồm từ những hành vi nhỏ nhất đến những hành vi lớn trong nhiều lĩnh vực khác 10 nhau, có thể gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, tập thể hoặc cá nhân cũng như lợi ích chung của cả cộng đồng có thể do tổ chức hoặc cá nhân gây ra. VPHC có các dấu hiệu cơ bản sau: Thứ nhất, VPHC là một hành vi trái pháp luật, vi phạm các quy định của pháp luật, ảnh hưởng đến hiệu quả và hiệu lực quản lý nhà nước trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Tuy nhiên tác hại do VPHC gây ra thấp, chưa đủ hoặc không thể cấu thành tội phạm.
Thứ hai, hành vi đó do một cá nhân hoặc pháp nhân thực hiện, đối với pháp nhân thì hành vi này do cá nhân thực hiện nhưng dưới danh nghĩa pháp nhân. Các cá nhân và pháp nhân thực hiện hành vi VPHC có năng lực chịu trách nhiệm hành chính. Thứ ba, hành vi đó là một hành vi có lỗi, lỗi đó có thể là cố ý khi người vi phạm tự thấy được tính trái quy định pháp luật trong hành vi của mình, thấy trước hậu quả và muốn hậu quả đó xảy ra hoặc nhận thức được hậu quả và mặc hậu quả xảy ra; lỗi là vô ý khi người vi phạm nhận thưc trước được hậu quả do hành vi gây ra nhưng cho rằng mình có thể ngăn chặn được hoặc không thấy trước được hậu quả sẽ xảy ra dù phải và có thể thấy trước được hậu quả của hành vi vi phạm. Vì vậy, có thể hiểu: VPHC là hành vi do cá nhân, pháp nhân thực hiện với hình thức lỗi là cố ý hoặc vô ý, vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước, xâm hại tới trật tự nhà nước, xã hội, sở hữu nhà nước và tập thể, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân được pháp luật hành chính bảo vệ mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử lý VPHC.
TTATGT đường bộ được hiểu là hoạt động giao thông đường bộ được điều chỉnh bằng một hệ thống các quy phạm pháp luật bắt buộc mọi chủ thể tham gia giao thông phải tuân theo, đảm bảo giao thông thuận lợi, hạn chế ùn tắc giao thông đồng thời hạn chế thấp nhất TNGT, bảo đảm sự an toàn cho con người và tài sản khi tham gia giao thông. Từ những phân tích ở trên, có thể hiểu “Vi phạm hành chính về TTATGT đường bộ là những hành vi của cá nhân, tổ chức vi phạm quy định của pháp luật 11 trong lĩnh vực giao thông đường bộ một cách cố ý hoặc vô ý, gây mất TTATGT mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải xử lý VPHC.