CHƯƠNG 1 Trong chương này tác giả tập trung hai nội dung chính sau: nêu bật lên những công trình tiêu biểu trước đây đã được nghiên cứu trong và ngoài nước, nêu ra hạn chế trong nghiên cứu trước đó cũng như sự cấp thiết tiến hành thực hiện đề tài nghiên cứu về sự ảnh hưởng của yếu tố văn hóa tổ chức đến vận dụng KTQT -Trường hợp nghiên cứu tại các doanh nghiệp TP. Hồ Chí Minh. Chương tiếp theo, tác giả sẽ trình bày các lý thuyết nền tảng có liên quan đến KTQT, yếu tố văn hóa tổ chức và việc vận dụng kế toán quản trị trong doanh nghiệp. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 CHƯƠNG 2 – CƠ SỞ LÝ THUYẾT Trong chương này, tác giả sẽ trình bày các lý thuyết nền tảng có liên quan đến kế toán quản trị, yếu tố văn hóa tổ chức và việc vận dụng kế toán quản trị trong doanh nghiệp.1 TỔNG QUAN VỀ VĂN HÓA TỔ CHỨC 2.1 Các khái niệm về văn hóa tổ chức Văn hóa tổ chức là thói quen, cách nghĩ truyền thống và cách làm việc trong tổ chức được chia sẻ bởi tất cả các thành viên trong tổ chức (Jaques, 1952).
Văn hóa tổ chức có thể được mô tả như một tập hợp chung các tín ngưỡng, thông lệ, hệ thống giá trị, quy chuẩn hành vi ứng xử và cách kinh doanh riêng của từng tổ chức. Các yếu tố đó sẽ quy định mô hình hoạt động riêng của tổ chức và cách ứng xử của các thành viên trong tổ chức (Tunstall, 1983).TS Dương Thị Liễu “Văn hóa doanh nghiệp là toàn bộ giá trị tinh thần mang đặc trưng riêng biệt của doanh nghiệp có tác động tới tình cảm, lý trí và hành vi của tất cả thành viên doanh nghiệp” (Dương Thị Liễu,2012) Như vậy, văn hóa tổ chức là hệ thống những giá trị, những niềm tin, những quy phạm được chia sẻ bởi các thành viên trong tổ chức và hướng dẫn hành vi của những người lao động trong tổ chức. Một điểm chung nữa của những khái niệm về văn hóa tổ chức nêu trên là tất cả những khái niệm đều nhấn mạnh vào những phương tiện mang tính biểu đạt mà thông qua đó những giá trị trong văn hóa tổ chức được truyền bá tới những người lao động trong tổ chức. Mặc dù, các công ty có thể trực tiếp mô tả những giá trị, những hệ thống ý nghĩa này thông qua những câu chuyện, những ví dụ, thậm chí cả những huyền thoại.
Những câu chuyện là phương tiện điển hình để phản ánh những ngụ ý quan trọng của những giá trị trong văn hóa tổ chức.2 Vai trò của văn hóa tổ chức/doanh nghiệp trong quản lý VHDN trong quản lý thể hiện hai vai trò quan trọng sau: (1) VHDN là công cụ triển khai chiến lược và (2) VHDN là phương pháp tạo động lực cho người lao động và sức mạnh đoàn kết cho tổ chức/doanh nghiệp. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 Thứ nhất, VHDN là công cụ triển khai chiến lược. Mọi doanh nghiệp đều bắt đầu sự tương lai của mình bằng một bản kế hoạch phát triển chiến lược, trong đó chỉ rõ định hướng kinh doanh mà doanh nghiệp sẽ theo đuổi được cụ thể hóa bằng định hướng về thị trường mục tiêu (khác hàng, thị trường, nhu cầu, lĩnh vực hoạt động chủ yếu) và định hướng sản xuất (chính sách sản phẩm, chất lượng, giá cả, dịch vụ và lợi thế cạnh tranh). Thành công trong việc xây dựng chiến lược, nhưng nhiều doanh nghiệp lại không thành công trong việc triển khai chiến lược.
Đó là do những khó khăn trong việc phát triển các công cụ quản lý, điều hành việc thực hiện trên cơ sở bản kế hoạch chiến lược đã xây dựng. Tham gia thực hiện chiến lược là tất cả mọi thành viên của tổ chức, doanh nghiệp. Đáng lưu ý là, mỗi người tham gia vào một tổ chức và hoạt động của tổ chức đều có nhiệm vụ riêng, cương vị khác nhau và sở hữu những kỹ năng/năng lực hành động không giống nhau. Họ là những bánh xe khác nhau của cùng một cỗ xe.
Khác nhau là vậy, nhưng họ phải thống nhất trong hành động và phối hợp hành động để đưa cỗ xe tiến theo cùng một hướng đến đích đã định. Điều đó chỉ có thể đạt được bằng cách xây dựng những quy tắc hành động thống nhất có tác dụng hướng dẫn, chi phối việc ra quyết định và hành động của mọi thành viên. Đối với doanh nghiệp xây dựng thương hiệu, điều đó còn có ý nghĩa lớn hơn nữa trong việc định hình phong cách. Có thể cho thấy rõ vai trò của văn hoá doanh nghiệp trong việc xây dựng các biện pháp, công cụ điều hành việc thực hiện chiến lược thông qua các biện pháp quản lý con người (nhân lực) và xây dựng thương hiệu.
Thứ hai, VHDN là cách thức tạo động lực cho người lao động và sức mạnh đoàn kết cho tổ chức, doanh nghiệp. Lý thuyết VHDN được phát triển dựa trên hai yếu tố: giá trị và con người. Trong VHDN, giá trị là những ý nghĩa, niềm tin, được thể hiện trong triết lý hành động gồm quan điểm (cách nhận thức), phương pháp tư duy và ra quyết định mà những người hữu quan bên trong công ty, tổ chức quyết định lựa chọn sẽ sử dụng làm thước đo để đánh giá các quyết định, nguồn động lực để hành động và mục tiêu để phấn đấu. Giá trị và các triết lý được tổ chức, công ty lựa chọn là chuẩn mực chung cho mọi thành viên tổ chức để phấn đấu hoàn thành, cho TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 những người hữu quan bên ngoài sử dụng để phán xét và đánh giá về tổ chức.
Giá trị và triết lý của cá nhân không làm nên sức mạnh, chúng chỉ gây mâu thuẫn. Chỉ có giá trị và triết lý thống nhất mới tạo nên sức mạnh tập thể. Giá trị là những đóng góp của doanh nghiệp đối với các đối tượng hữu quan, hay xã hội về phúc lợi, về sự phồn vinh và phát triển của xã hội, về việc gìn giữ và phát triển các giá trị đạo đức và nhân văn của con người. Giá trị được xác định trên cơ sở những chuẩn mực và giá trị đạo đức xã hội và kinh doanh.
Mỗi tổ chức, doanh nghiệp lựa chọn cho mình trong số những giá trị và triết lý mà xã hội coi trọng làm giá trị và triết lý chủ đạo của mình. Không chỉ vậy, họ còn thể hiện những cam kết của tất cả các thành viên tổ chức trong việc tự nguyện phấn đấu vì những giá trị và kiên trì theo đuổi những triết lý đó. Chính vì giá trị mà tổ chức và các thành viên tổ chức cam kết tôn trọng thể hiện sự cống hiến cho con người. Giá trị là chất liệu tạo nên hình ảnh của tổ chức.
Và chính nhờ những cống hiến đó mà tổ chức và các thành viên tổ chức được xã hội đánh giá cao và sẵn sàng trao tặng những phần thưởng tinh thần (thương hiệu) và vật chất (lợi nhuận) tương xứng. VHDN có hiệu lực chính là con người: người lãnh đạo đóng vai trò là người tiên phong, thành viên trong tổ chức đóng vai trò hoàn thành. Chính con người làm cho những giá trị được tuyên bố chính thức trở thành hiện thực. Ngược lại, giá trị làm cho hành động và sự phấn đấu mỗi cá nhân trở nên có ý nghĩa.
Con người thể hiện giá trị; Giá trị nâng con người lên. Giá trị là thứ duy nhất có thể thu hút mọi người đến với nhau. Giá trị liên kết con người lại với nhau. Giá trị tạo nên động cơ hành động cho con người.
Giá trị làm cho mỗi người tự nguyện cam kết hành động vì mục tiêu chung. Quản lý bằng VHDN là quản lý bằng ý thức - tự quản lý.3 Cấu trúc văn hóa doanh nghiệp - Cấp độ thứ nhất: Cơ cấu hữu hình của doanh nghiệp: + Cơ cấu tổ chức phòng ban của doanh nghiệp; + Các văn bản quy định quy tắc hoạt động doanh nghiệp; + Kiến trúc công ty, phong cách bài trí và các biểu tượng, logo và khẩu hiệu, TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 14 + Công nghệ sản phẩm, hình thức và mẫu mã sản phẩm; + Cách ăn mặc và ứng xử, thái độ hành vi và cách biểu lộ cảm xúc,. - Cấp độ thứ hai: Các giá trị được công khai (Chiến lược, mục tiêu, triết lý doanh nghiệp). - Cấp độ thứ ba: Các quan niệm chung (niềm tin, nhận thức, suy nghĩ và tình cảm chung).2 MÔ HÌNH VĂN HÓA TỔ CHỨC CỦA KIM CAMERON & ROBERT QUINN, 1999 (Cameron & Quinn, 1999) dựa trên lý thuyết về Khung giá trị cạnh tranh, so sánh mức độ phân cực của mỗi doanh nghiệp về tính linh hoạt so với sự ổn định và mức độ tập trung nội bộ so với bên ngoài, đã chia VHDN thành bốn loại: Văn hóa gia đình (Clan), văn hóa thứ bậc (Hierarchy), văn hóa thị trường (Market) và văn hóa sáng tạo (Adhocracy).1 đã thể hiện thành sơ đồ mô hình văn hóa tổ chức theo Cameron & Quinn Hình 2.1 - Mô hình văn hóa Cameron & Quinn (1999) Nguồn: Theo Cameron & Quinn (1999) TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 15 Theo Cameron & Quinn (1999), văn hóa tổ chức được đo lường bởi 6 yếu tố sau và cũng là công cụ để đánh giá văn hóa của một doanh nghiệp: Đặc điểm cơ bản của văn hóa gia đình: Môi trường hòa đồng, vui vẻ giữa tất cả các cấp quản trị, từ ban lãnh đạo tới nhân viên; quan tâm đến làm việc theo nhóm, người lãnh đạo đóng vai trò như một người tiên phong, là tấm gương.
Tổ chức/doanh nghiệp được gắn kết bằng những yếu tố mang nét truyền thống, bằng mục tiêu phát triển chung và sự trung thành, tin tưởng của các thành viên trong công ty/tổ chức. Đặc điểm cơ bản của văn hóa sáng tạo: Việc quản trị không chú trọng nhiều đến các nguyên tắc hay quy định. Doanh nghiệp tạo nơi làm việc mang đậm chất tự do nhất có thể để nhân viên sáng tạo theo sở trường. Các doanh nghiệp mang nét văn hóa này phải có những sản phẩm, dịch vụ vượt tiêu chuẩn hiện tại.
Doanh nghiệp sẵn sàng chấp nhận đầu tư vào những dự án có tính rủi ro cao. Đặc điểm cơ bản của văn hóa thị trường: Môi trường cạnh tranh được đặc biệt đề cao trong doanh nghiệp, bao gồm cạnh tranh giữa công ty với đối thủ và sự cạnh tranh giữa các đơn vị con, giữa các nhóm hoặc giữa các cá nhân trong công ty. Hoàn thành nhiệm vụ, đạt và vượt mục tiêu, kế hoạch đề ra luôn là ưu tiên. Người lãnh đạo doanh nghiệp không quan tâm nhiều đến cách thực hiện, cách triển khai mà chú trọng đến kết quả.