Chương 1: Giới thiệu về ly do hình thành dé tài, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và ý nghĩa thực tiên của nghiên cứu. Chương 2: Trình bày cơ sở lý thuyết, mô hình nghiên cứu và các giả thuyết kỳ vong. Chương 3: Trinh bay chỉ tiết về phương pháp nghiên cứu, kết qua nghiên cứu định tính, hiệu chỉnh thang đo, hoàn thiện bảng câu hỏi phục vụ cho nghiên cứu định lượng và giới thiệu các tiêu chí áp dụng trong quá trình phân tích dữ liệu định lượng. Chương 4: Phân tích dữ liệu và trình bày kết quả.
Chương 5: Tóm tắt kết quả nghiên cứu, trình bày các đóng góp. hạn chế của đề tài và đưa ra kiên nghi. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LY THUYET VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Nội dung chương 2 tập trung vào giới thiệu về nguôn gốc, khái niệm, mô hình và các thang đo về TTCX, và một số khái niệm có liên quan đến chủ dé nghiên cứu, dong thời tham khảo tông quan các nghiên cứu trước đó được xem là có liên quan van dé nghiên cứu của luận văn. Từ đó, đưa ra mô hình nghiên cứu và dé xuất các giả thuyết cho mô hình.1 Trí tuệ cảm xúc Bar-On (1985) là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ trí tuệ cảm xúc trong luận án tiễn sĩ của mình.
Bar-On đặt trí tuệ cảm xúc trong phạm vi lý thuyết nhân cách, đưa ra mô hình Bar- On (1997) với ý định trả lời câu hỏi: “Tại sao một người nào đó lại có khả năng thành công hơn những người khác?”. Dé xem xét lại những nghiên cứu tâm lý vé các đặc tinh của nhân cách có liên quan đáng kế đến sự thành công trong cuộc sống. Theo Bar-On và Parker (2000) trí tuệ cảm xúc như là một dãy các phi năng lực và những kỹ năng ảnh hưởng đến năng lực một người thành công trong công việc đương đầu với những đòi hỏi và sức ép từ môi trường. Năm 1990, hai nhà tâm lý học người mỹ John Mayer và Peter Salovey đã phát biểu trí tuệ cảm xúc là “một loại thông minh xã hội liên quan đến khả năng theo dõi cảm xúc của mình và người khác, để phân biệt các cảm xúc đó, và sử dụng thông tin để hướng dẫn suy nghĩ và hành động”.
Goleman (1995) — tiễn sĩ tâm lý học của đại học Harvard, đã giúp khái niệm trí tuệ cảm xúc trở nên phô biến thông qua quyền sách bán chạy nhất làm cho nhan đề: “Trí tuệ cảm xúc: Tại sao có thể quan trọng hơn IQ”, có nghĩa là chi số thông minh, là một khái niệm được đưa ra vào cuối thé ky 19 boi nhà khoa hoc Francis Galton người Anh được dùng dé định giá trị thông minh của một người, người có chỉ số IQ cao có khả năng thao tác, xử lý và phân tích thông tin ở mức độ chuyên sâu và tốc độ nhanh hơn người bình thường. Salovey (1997) đã chính xác hóa định nghĩa trí tuệ cảm xúc — “ Trí tuệ cảm xúc như là năng lực nhận biết và bày tỏ xúc cảm, hòa xúc cảm vảo suy nghĩ, hiểu và suy luận với xúc cảm va điều khiến, quản lý xúc cảm của minh va của người khác” Từ tiếp cận các định nghĩa trên ta có thể hiểu TTCX là khả năng hiểu rõ cảm xúc bản thân, bày tỏ cảm xúc với người khác, phân biệt được chúng và sử dụng chúng để hướng dẫn suy nghĩ và hành động của bản thân và của người khác. Trí tuệ cảm xúc còn được hiểu là khả năng tự kiềm chế tình cảm, tự đánh giá, khả năng kiểm soát và chế ngự những khát vọng, đam mê, khả năng kỷ luật tự giác, khả năng tư duy tích cực, tìm ra được nhiều giải pháp để giải quyết công việc.2 Một số mô hình về trí tuệ cảm xúc Trí tuệ cảm xúc là chu dé được nhiêu nhà khoa học thực hiện, có nhiêu m6 hình khác nhau được dé xuât đê nghiên cứu vê TTCX. Tuy nhiên, dé thay được mô hình nào phù hợp với mục đích nghiên cứu, tác giả đưa ra một sô mô hình cân tìm hiéu rõ như sau: 2.1 Mô hình TTCX của Reuven Bar-On Theo Bar-On va cong su (1997) TTCX la kha nang hiểu biết về cảm xúc va hiểu biết xã hội của một cá nhân.
Các khả năng này ảnh hưởng đến việc thích ứng, đối phó với những yêu cau và áp lực từ công việc, môi trường, hoàn cảnh. Từ quan điểm đó, mô hình TTCX bao gồm các năng lực, khả năng sau: Kha nang làm chủ cảm xúc ban thân: là sự nhận biết, hiểu và biết cách bộc lộ cảm xúc của một cá nhân trong từng hoàn cảnh cụ thể. Khả năng này được hiểu là khả năng của một cá nhân trong việc tự nhận thức, hiểu và chấp nhận những gi thuộc về bản thân mình, cũng như nhận thức được cảm xúc của bản thân để có thê biểu lộ cảm xúc (kiếm soát các biểu hiện trên khuôn mặt, giọng nói, cử chỉ.) và đưa ra các ý kiến, nhu cầu, mong muốn của bản thân phù hợp với từng tình huống, hoàn cảnh cụ thé; và là khả năng của một cá nhân trong việc nhận ra các khả năng tiềm tàng của bản thân để có thể tự định hướng, quyết định về công việc mà không lệ thuộc quá nhiều vào cảm xúc, tâm trạng. Khả năng nhận biết, hiểu và cảm thông với người khác: Khả năng này được hiệu là khả năng của một cá nhân trong việc nhận thức và thâu hiêu cam xúc 7 của người khác.
Khả năng này được đánh giá thông qua tỉnh thần trách nhiệm của một cá nhân với tổ chức, nhóm cũng như khả năng xây dựng va duy trì các mối quan hệ thân thiết của cá nhân đó. Khả năng thích ứng: Khả năng đánh giá và đưa ra những điều chỉnh về cảm xúc dé phù hợp với từng hoan cảnh cụ thể. Khả năng thích ứng của một cá nhân thường được nhìn nhận là trong một tình huỗng hoặc có van đề cần giải quyết thì cá nhân đó có thường kiểm tra thực tế , xem xét lại suy nghĩ, cảm xúc của mình về công việc, vẫn dé đó là đúng hay sai và cần điều chỉnh cảm xúc, suy nghĩ, hành vi như thé nào dé có thé giải quyết van dé đó một cách xây dựng và giảm áp lực từ công việc đem lại. Khả năng kiểm soát áp lực (stress): là năng lực ứng phó với những xúc cảm mạnh và kiểm soát, làm chủ các xúc cảm đó của một cá nhân.
Khả năng nảy thường được nhìn nhận ở khả năng chịu đựng với các áp lực từ công việc, cuộc sống, khả năng kiểm soát được tính bốc đồng, mâu thuẫn giữa các cảm giác, Tâm trạng chung: khả năng cân bang về công việc, cuộc sống của một cá nhân để cảm thay hạnh phúc, và co tinh thần lạc quan, tích cực.2 Mô hình về trí tuệ cảm xúc của Salovey và Mayer Năm 1990, hai nhà tâm lý học người Mỹ thế hệ mới là Salovery ( Đại học Yale) và Mayer ( Dai học Hampshire) đã phát biéu chính thức quan điểm của họ về hiện tượng trí tuệ mới phát hiện nay bao gém 5 loại khả năng “Hiểu biết về cảm xúc, Làm chu cảm xúc, Nhán biết, thấu hiếu các xúc cam của người khác, Điều chỉnh xúc cảm của bản thân và người khác, Sự làm chủ những quan hệ con người ” Tuy nhiên đến năm 1997, Salovery và Mayer định nghĩa trí tuệ cảm xúc là: “kha năng nhận thức cảm xúc, dé tiếp cận va sinh ra cảm xúc nhằm hỗ trợ suy nghĩ, dé hiểu những cảm xúc và kiến thức về cảm xúc, va để suy nghĩ điều chỉnh cảm xúc nhằm thúc đầy việc nâng cao tình cảm và tri tuệ”. Và mô hình được xây dựng với 4 khả năng sau: Nhận biết các cảm xúc: Gỗm một phức hợp các kỹ năng cho phép một cá nhân biết cách cảm nhận và biểu lộ các cảm xúc. Các năng lực cụ thể ở đây bao gồm nhận dạng những cảm xúc của mình và của người khác, bày tỏ cảm xúc của mình và phân biệt được những dạng cảm xúc mà người khác biểu lộ -thông qua những thông tin được truyền tải, tiếp nhận qua nét mặt, giọng nói, cử chỉ, tư thế cơ thể, màu sắc và các dau hiệu khác ( như qua những câu chuyện người đó kể, sở thích âm nhạc, nghệ thuật, hoặc những điều làm người đó phấn khích.) Sử dụng các cảm xúc để hỗ trợ, thúc day tư duy: Năng lực này được hiểu là kha năng của một cá nhân trong việc sử dụng cảm xúc dé hỗ trợ óc phán xét và tư duy: nhận thức được răng những thay đôi tâm trạng có thé dẫn đến sự xem xét những quan điểm thay thé và hiểu rang một sự thay đổi trong trạng thái cảm xúc và cách nhìn có thể khuyến khích nảy sinh các loại năng lực giải quyết vấn đề khác nhau. Khả năng thấu biểu các cảm xúc và qui luật của cảm xúc: Năng lực này được hiểu là khả năng của một cá nhân trong việc hiểu rõ về cảm xúc và nguyên nhân, tiến trình phát triển của cảm xúc, bao gồm các kha năng như định nghĩa va phân biệt được các loại cảm xúc khác nhau (ví dụ sự khác biệt giữa yêu và ghét), hiểu được sự pha trộn phức tạp của các loại tình cam va đề ra các quy luật về tình cảm: chắng hạn sự tức giận loại bỏ được sự e thẹn, sự mắt mat thường kéo theo sự buôn chán.
Khả năng quản lý các cảm xúc: Năng lực này được hiểu là khả năng của một cá nhân trong việc kiểm soát, tự điều khiển các cảm xúc của bản thân, sắp đặt các cảm xúc nhăm hỗ trợ một mục tiêu xã hội nào đó, điều khiển cảm xúc của người khác. Ở mức độ phức tạp này năng lực cảm xúc gồm các kỹ năng cho phép cá nhân tham gia có chọn lọc vào các loại cảm xúc nào đó hoặc thoát ra khỏi những loại cảm xúc nào đó, đê điêu khiên, kiêm soát các cảm xúc của mình và của người khác.3 Mô hình trí tuệ cảm xúc của Goleman (1995) Theo Goleman(1995), một nhà tâm lý học người Mỹ đưa ra 5 yếu tố để xác định trí tuệ cảm xúc: Self-Awareness (Tự nhận thức — Hiểu rõ bản thân), Self- Regulation (Tự điều chỉnh — Kiểm soát bản thân), Motivation (Động lực — Nhiệt huyết),Empathy (Đồng cảm — Biết cam thông), Social Skills (Kỹ năng xã hội — Kỹ năng giao tiếp) Tuy nhiên đến năm 2001 Goleman và các cộng sự lại cho rằng năng lực cảm xúc bao gồm năng lực cá nhân và năng lực xã hội. Năng lực cá nhân là kết quả của kỹ năng nhận thức về bản thân và làm chủ bản thân.