Chương 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu Chương 2: Khuôn khổ lý thuyết và tổng quan tài liệu nghiên cứu trước đây Chương 3: Phương pháp và mô hình nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực nghiệm Chương 5: Kết luận, kiến nghị, hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu trong tương lai. 5 CHƯƠNG 2: KHUÔN KHỔ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2. Khung lý thuyết Khi xem xét mối quan hệ giữa các nhà đầu tư đối với tính thanh khoản cổ phiếu trên thị trường chứng khoán. Nhiều nhà nghiên cứu chủ yếu dựa theo các giả thuyết, lý thuyết cơ sở là: lý thuyết bất cân xứng thông tin, lý thuyết tín hiệu, giả thuyết lựa chọn bất lợi, giả thuyết giao dịch.
Các bài báo khoa học của Rubin (2007), Jiang (2011) Ajina (2015), Syamala (2014), Ali (2018), Vo Xuan Vinh (2016) được trình bày trong phần kế tiếp, đều dựa trên các cở sở khung lý thuyết này để tìm lời giải cho các câu hỏi bài nghiên cứu đề ra. Lý thuyết thông tin bất cân xứng Lý thuyết thông tin bất cân xứng (Asymmetric Information): Lý thuyết này cùng được công bố đầu tiên năm 1970 bởi ba nhà nghiên cứu khoa học “George Akerlof, Michael Spence và Joseph Stiglitz”. Sự bất cân xứng thông tin trên thị trường cổ phiếu là trạng thái khi trong tất cả các nhà đầu tư tham gia trên thị trường thì có một số cá nhân, tổ chức tham gia giao dịch mà cố tình không công bố các thông tin hoặc có thông tin mà nhà đầu tư khác không có. Lúc này, việc định giá cổ phiếu trong ngắn hạn tạm thời có sự chênh lệch tương đối rộng và việc giao dịch khớp lệnh có sự chệch cân bằng cung và cầu.
Ví dụ khi có một thông tin rất tích cực đến từ kết quả vượt trội từ doanh nghiệp hay một số chính sách hỗ trợ cho nhóm ngành doanh nghiệp, tổ chức quốc tế mà có ảnh hưởng lớn. Trong ngắn hạn chỉ có một thành phần nhà đầu tư xác nhận được thông tin này và họ định giá cũng như kỳ vọng giá trị doanh nghiệp cao hơn trong tương lai. Lúc này trên sàn giao dịch chứng khoán, nhóm đầu tư này sẽ ưu tiên mua vào với tỉ trọng nhiều hơn so với trung bình các phiên giao dịch trước đó. Một sự tăng lên vượt trội của cầu bên mua cũng giúp giá cổ phiếu tăng lên nhanh chóng và nếu như trong thành phần các nhà đầu tư có thông tin trước đó, cũng có sự cạnh tranh để mua được cổ phiếu với giá tốt nhất thì quá trình đẩy giá này càng diễn ra nhanh 6 hơn.
Trong khi đó, thành phần các nhà đầu tư còn lại vốn không có thông tin họ có thể có sự nghi ngờ vì khi chưa có thông tin hỗ trợ tích cực kia nên việc định giá cổ phiếu vẫn chưa có sự thay đổi. Kết quả là giá cổ phiếu có sự biến động nhưng việc giao dịch có thể giảm thiểu từ sự thiếu thông tin của thành phần đầu tư còn lại. Sự việc sẽ đem lại sử tổn thất rõ rệt hơn nếu các thông tin tiêu cực về một doanh nghiệp niêm yết nào đó được rò rỉ đối với những nhóm nhà đầu tư có tỉ lệ sở hữu cổ phiếu cao. Lúc này một lượng lớn lượng cổ phiếu cung (muốn bán) ra thị trường có thể làm chênh lệch giá giao dịch giảm với biên độ rất rộng một cách nhanh chóng và có hiện tượng “trắng bên mua” (các lệnh đặt mua không xuất hiện trên bảng điện tử hiển thị giá giao dịch dẫn đến các lệnh bán không thể khớp lệnh).
Lúc này chỉ số thanh khoản của cổ phiếu đó trở về không. Thông tin bất cân xứng tại các thị trường chứng khoán mới nổi, cận biên thường xuất hiện nhiều và bởi nhiều nguyên nhân. Đó có thể xảy ra khi doanh nghiệp không sẵn lòng công bố thông tin chính xác hoặc cố tình công bố thông tin không đúng so với thực tế doanh nghiệp của họ; hoặc có sự rò rỉ sớm các thông tin nội bộ doanh nghiệp mà những cổ đông lớn thường biết trước, họ không tuân thủ quy định; các sự việc cố tình tung tin đồn sai lệch, lừa đảo, sự méo mó, thiếu chân thực của thông tin từ các phương tiện truyền thông cũng làm cho sự bất cân xứng thông tin thêm trầm trọng. Các doanh nghiệp cổ phần khi niêm yết cổ phiếu trên sàn giao dịch chứng khoán luôn phải tuân thủ các quy định theo luật định từng quốc gia.
Việc các nhà đầu tư tổ chức trong nước và ngoài nước muốn nắm giữ tỉ lệ sở hữu cao tại một doanh nghiệp niêm yếu cũng được quy định rõ ràng. Tại Việt Nam khi nhà đầu tư sở hữu lượng cổ phần từ 5% trở lên thì được gọi là cổ đông lớn. Lúc này họ đã có thể có “tiếng nói” nhất định đối với ban lãnh đạo doanh nghiệp. Việc các nhà đầu tư tổ chức này khi sở hữu tỉ lệ cổ phần lớn hơn họ có thể cắt cử đại diện tham gia vào ban quản trị doanh nghiệp, hoạch định mục tiêu kinh doanh.
Cùng với đó, các kết quả kinh doanh, tiến độ các dự án đầu tư, mở rộng hoạt động kinh doanh nhóm nhà đầu tư tổ chức thường có thông tin trước theo một vài cách nào đó. Trong khi đó, nhóm nhà 7 đầu tư nhỏ lẻ không có các thông tin này dẫn đến hiện tượng thông tin bất cân xứng. Điều này sẽ càng trầm trọng hơn khi ban quan trị cố tình che dấu các thông tin mà đáng lẽ ra họ cần phải công bố theo luật định. Từ đó, việc đánh giá cổ phiếu từ các nhà đầu tư tổ chức khác, các chuyên viên phân tích, các nhà đầu tư nhỏ lẻ đều có sự chênh lệch, thậm chí việc tham gia nắm giữ một cổ phiếu mà việc công bố thông tin của doanh nghiệp đó lại thiếu minh bạch cũng như tính trung thực thì các khuyến nghị quan tâm và đầu tư cổ phiếu doanh nghiệp đó sẽ giảm thiểu đáng kể.
Trong trường hợp này thanh khoản cổ phiếu sẽ rất thấp do không nhiều nhà đầu tư cá nhân lẫn tổ chức tham gia mua bán, thông tin bất cân xứng làm thanh khoản cổ phiếu trở nên tiêu cực. Giả thuyết lựa chọn bất lợi Giả thuyết lựa chọn bất lợi cho rằng sẽ có sự bất cân xứng thông tin giữa nhóm các cổ đông nội bộ sở hữu cổ phần bên trong doanh nghiệp và nhóm các cổ đông bên ngoài doanh nghiệp (Grullon& Albert Wang, 2001). Khi xuất hiện trạng thái bất cân xứng thông tin thì các nhà đầu tư có sự đánh giá khách nhau về giá trị hiện tại của doanh nghiệp và triển vọng trong tương lai. Theo đó các nhà đầu tư nhận định thị giá chứng khoán có thể là dưới giá trị thật hoặc ngược lại.
Thêm nữa, cộng với khẩu vị đầu tư, chiến lược đầu tư của từng nhà đầu tư cá nhân và tổ chức khác nhau dẫn đến họ có hành động giá là mua vào hay bán ra cổ phiếu đó. Kết quả là thanh khoản của cổ phiếu có sự thay đổi tương đối đáng kể.akerlof (1970) phát hiện ra rằng sự lựa chọn đối nghịch xảy ra khi có sự bất cân xứng thông tin ở bất cứ thị trường nào. Trong khi đó thông tin bất cân xứng lại làm tăng xác suất lựa chọn bất lợi tới nhà đầu tư (Agarwal, 2007). Ngay cả đối với các cổ đông là tổ chức cũng có sự cạnh tranh và thường thì đem lại hiệu ứng hiệu quả thông tin (Agarwal, 2007).
Cổ đông tổ chức khi nằm trong ban quản trị một doanh nghiệp cụ thể, họ sẽ có những sự giám sát ban điều hành công ty để đạt được các mục tiêu trong kỳ kinh doanh của mình cũng như của đại hội cổ đông đề ra. Sự giám sát của họ đem lại cho doanh nghiệp sự minh bạch, thông tin có 8 sự kịp thời, chính xác hơn khi xuất hiện ngoài thị trường. Như vậy, khi có sự tăng cạnh tranh giữ các nhà đầu tư tổ chức sẽ đem lại hiệu quả thông tin, giúp thông tin được giá cả chứng khoán phản ánh nhanh hơn. Sự bất cân xứng thông tin gây ra vấn đề lựa chọn bất lợi còn thể hiện rõ đối với sự tác động đến các nhà tạo lập thị trường.
Nhà tạo lập luôn là đối tượng với vai trò tạo lập thanh khoản. Một sự gia tăng bất cân xứng trong thông tin sẽ làm thị trường có những phản ứng không giống nhau và dẫn đến hành động mua hoặc bán khác nhau. Sự chênh lệch giá mua - giá bán tăng lên (spread ask- bid) làm các nhà tạo lập thanh khoản có thể bị mất nhiều chi phí hơn để đảm bảo hoạt động mua bán liên tục, duy trì thanh khoản cho chứng khoán. Tại thị trường chứng khoán nước ta hiện nay chưa có các nhà tạo lập thanh khoản trên các SGDCK.
Sự bất cân xứng thông tin khi xảy ra sẽ ảnh hưởng tiêu cực nhiều hơn tới thanh khoản chứng khoán so với các thị trường phát triển trên thế giới như ở Mỹ, Anh. Giả thuyết giao dịch Giả thuyết giao dịch được giải thích là: Khi các nhà đầu tư quay vòng hoạt động giao dịch đối với danh mục đầu tư của họ nhiều hơn thì chi phí giao dịch sẽ được giảm thiểu (Merton, 1987; Schwartz and Shapiro, 1992; Fu, 2009). Việc giao dịch với giá trị giao dịch lớn thì chi phí giao dịch sẽ giảm. Hoạt động giao dịch khớp lệnh gia tăng tạo thanh khoản cao sẽ càng kéo theo các nhà đầu tư cá nhân và tổ chức khác cùng tham gia mua bán chứng khoán.
Các nhà đầu tư muốn thay đổi vị thế hiện tại là nắm giữ chứng khoán hay tiền mặt một cách dễ dàng hơn và sự chênh lệch giữa các mức giá giao dịch khớp lệnh sẽ hẹp hơn trung binh các phiên giao dịch trước đó. Khi thông tin trên thị trường có sự đầy đủ và chính xác, kịp thời hơn thì càng làm hoạt động giao dịch trao đổi vị thế càng nhộn nhịp. Các NĐT tổ chức cùng với dòng tiền lớn của mình càng kích thích cải thiện thanh khoản cho chứng khoán và thị trường. Khi giá chứng khoán và giá trị giao dịch càng tăng, ở góc nhìn phân tích kỹ 9 thuật sẽ cho điểm mua bán, lúc này các chuyên viên phân tích đầu tư chứng khoán có thể đưa ra lời khuyên cho các nhà đầu tư khác nhau tiếp tục tham gia vào các vị thế nhiều hơn.
Điều này cũng có thể thu hút sự quan tâm nhiều hơn từ các NĐT cá nhân vốn dĩ là thành phần có ít thông tin và thiếu năng lực đánh giá, nhận định thị trường so với các NĐT chuyên nghiệp.