CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI Chương này trình bày các căn cứ, nền tảng và động lực để thực hiện luận án, với đề tài nghiên cứu về tác động của sở hữu gia đình và tài sản tình cảm xã hội đến cấu trúc vốn các công ty. Sự chọn lựa đề tài này bắt nguồn từ nhận định về sự phát triển vượt bậc và vai trò chủ lực của kinh tế tư nhân tại Việt Nam, trong đó có vai trò vô cùng quan trọng của sở hữu gia đình trong hoạt động của các công ty tư nhân. Bên cạnh đó, qua lược khảo lý thuyết khoa học và các nghiên cứu trước, chương này trình bày nhu cầu nghiên cứu ngày càng phát triển về vai trò của sở hữu gia đình đối với cấu trúc vốn, để củng cố thêm lý do lựa chọn đề tài nghiên cứu này.
Từ việc khảo sát, phân tích, biện luận, hướng nghiên cứu được thu hẹp thành đề tài về mối quan hệ giữa sở hữu gia đình và cấu trúc vốn của các công ty Việt Nam. Trong đó, mục tiêu nghiên cứu được xác định nhằm lấp đầy các khoảng trống nghiên cứu về vai trò của sở hữu gia đình đối với cấu trúc vốn của các công ty, trong bối cảnh bình thường cũng như trong bối cảnh có khó khăn, khủng hoảng mà điển hình là việc doanh thu của các công ty giảm sút dưới kỳ vọng như đại dịch Covid-19 vừa qua. Tiếp theo, để nghiên cứu có tính khả thi, các đối tượng và phạm vi nghiên cứu được xác định, cùng với phương pháp nghiên cứu phù hợp với nguồn dữ liệu thứ cấp về tình hình tài chính các công ty. Trong phần cuối, chương này trình bày ý nghĩa nghiên cứu, các điểm mới và kết cấu của luận án.
BỐI CẢNH NGHIÊN CỨU Nhằm xác định tính cần thiết và tính mới của nghiên cứu, bối cảnh nghiên cứu được tìm hiểu trước tiên; bao gồm bối cảnh thực tiễn về sự phát triển và vai trò của các công ty gia đình tại Việt Nam; sau đó là bối cảnh nghiên cứu về mặt lý thuyết. Đây là nền tảng để xác định vấn đề nghiên cứu. Sự phát triển và vai trò của các công ty gia đình tại Việt Nam Kể từ sau thời kỳ đổi mới, kinh tế tư nhân phát triển nhanh chóng và đóng vai trò tiên phong trong sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế Việt Nam. Sự phát triển về 2 số lượng lẫn quy mô doanh nghiệp đạt mức ấn tượng trong 20 năm qua, số lượng doanh nghiệp thành lập tăng từ 42.300 vào năm 2000, lên đến 758.610 vào năm 2019; các doanh nghiệp tư nhân chiếm đến 60,6% việc làm của tất cả các doanh nghiệp đã đăng ký.
Tính đến hết năm 2019, có đến 7 doanh nghiệp tư nhân Việt Nam lọt vào nhóm 200 công ty niêm yết lớn nhất khu vực châu Á - Thái Bình Dương với doanh thu trên một tỷ USD (World Bank, 2021). Trong khu vực kinh tế tư nhân tại Việt Nam, công ty gia đình chiếm tỷ trọng lớn nhất về số lượng và cả đóng góp vào GDP (Dinh & ctg. Không chỉ đóng góp một tỷ trọng lớn cho nền kinh tế, các công ty gia đình có sự nổi trội hơn về vai trò xã hội và tạo ra những sản phẩm, dịch vụ mới, mang tính sáng tạo và bền vững cho nền kinh tế (Miroshnychenko & ctg. Rất nhiều sản phẩm, dịch vụ, ý tưởng sáng tạo gắn liền với tên tuổi công ty gia đình, ngay trong dữ liệu nghiên cứu của luận án, ví dụ như Bánh mì Kinh đô, Bút bi Thiên Long, Nhà Hòa Bình, Nội thất Hòa Phát, Tôn Hoa Sen, Thủy sản Minh Phú… Sở hữu gia đình được xác định không chỉ là việc sở hữu cổ phần chi phối hoạt động của công ty, mà còn là việc tham gia thực hiện quyền sở hữu đó trong hoạt động hàng ngày của một công ty, cụ thể là việc tham gia quản trị chiến lược, tham gia điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày của một công ty (Miller & ctg.
Từ đó dẫn đến hai định nghĩa phổ biến và tương đồng cao về công ty có sự sở hữu gia đình. Đầu tiên là định nghĩa được áp dụng rộng rãi trong các nghiên cứu về mối quan hệ giữa sở hữu gia đình và cấu trúc vốn, trong đó sở hữu gia đình được xác định gồm 3 đặc điểm cùng lúc là tham gia sáng lập công ty, sở hữu vốn chi phối hoạt động của công ty, và tham gia quản trị công ty (Anderson & ctg., 2003; Poletti- Hughes & Martínez, 2022). Song song đó, nhiều tác giả sử dụng định nghĩa sở hữu gia đình của Klein (2000), cụ thể sở hữu gia đình bao gồm 3 khía cạnh đồng thời là có sở hữu vốn chi phối hoạt động của công ty, tham gia quản trị công ty và tham gia điều hành công ty. Sở hữu gia đình có vai trò thiết yếu với nền kinh tế Việt Nam.
Theo báo cáo khảo sát về công ty gia đình toàn cầu năm 2021 của tập đoàn PwC, các công ty gia đình ở 3 Việt Nam cũng đóng vai trò quan trọng như công ty gia đình trên toàn thế giới, cụ thể chỉ riêng 100 công ty gia đình lớn nhất ở Việt Nam đã đóng góp đến 25% GDP cả nước (PwC, 2021). Trong một nghiên cứu chuyên sâu về các công ty gia đình ở châu Á, Dinh & Calabro (2018) tổng hợp nhiều nghiên cứu khác nhau và cho rằng loại hình công ty gia đình chiếm đến 80% - 90% số lượng công ty tư nhân ở Việt Nam. Sự phát triển nhanh chóng và những đóng góp tích cực của các công ty gia đình với nền kinh tế cho thấy các ưu điểm của hình thức sở hữu gia đình, bao gồm tinh thần khởi nghiệp, sự sáng tạo trong việc tạo ra sản phẩm, dịch vụ mới, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm và thương hiệu quốc gia (Tien, 2021). Về mặt chính sách, Nhà nước cũng liên tục mở rộng hành lang pháp lý và tạo điều kiện cho các công ty gia đình hoạt động ngày càng rộng rãi hơn dưới nhiều loại hình khác nhau như công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty cổ phần đại chúng và khuyến khích các công ty gia đình cổ phần hóa, niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán (Dinh & Calabro, 2018).
Về sự công nhận của xã hội, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), tổ chức quốc gia tập hợp và đại diện cho cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam, cũng đã thành lập Hội đồng Doanh nhân và gia đình Việt Nam năm 2014 (nguồn: https://www.vn/hoi-dong- doanh-nhan-gia-dinh), tổ chức này liên tục mở rộng hoạt động và tăng số lượng hội viên cho đến nay. Trong bối cảnh này, việc nghiên cứu và phát triển các mô hình quản lý công ty gia đình dựa trên các cơ sở lý thuyết quản trị kinh doanh, quản trị tài chính lâu đời có ý nghĩa rất lớn để nâng cao hiệu quả hoạt động và sự bền vững của các công ty gia đình, từ đó đóng góp cho cả nền kinh tế và xã hội. Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển của thị trường chứng khoán, các công ty gia đình cũng mở rộng hoạt động và nguồn vốn bằng cách cổ phần hóa, nhưng vẫn giữ lại phần vốn chi phối thuộc sở hữu gia đình và vẫn cử thành viên gia đình tham gia quản trị, điều hành công ty, và các công ty gia đình đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam (Nguyen & Vo, 2015). Trong bối 4 cảnh này, việc nghiên cứu về sở hữu gia đình không chỉ có ý nghĩa đối với cả nền kinh tế dưới góc độ các công ty chưa niêm yết, mà còn có ý nghĩa thiết thực với các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán.
Bối cảnh nghiên cứu về mặt lý thuyết Lý thuyết khoa học về quản trị công ty gia đình đã được hình thành và phát triển nhanh chóng trên thế giới từ hơn 30 năm qua, và là đề tài được quan tâm hàng đầu trong các nghiên cứu và công bố về quản trị kinh doanh và tài chính trên thế giới. Theo Villalonga & Amit (2020), qua thống kê từ cơ sở dữ liệu nghiên cứu khoa học ISI Web of Science, các nghiên cứu về sở hữu gia đình chiếm 4 đến 5 công trình trong số 10 công trình khoa học được trích dẫn nhiều nhất suốt 25 năm qua trên ba tạp chí hàng đầu thế giới về tài chính và quản trị là Journal of Financial Economics, Journal of Corporate Finance, và Journal of Finance. Với sự phát triển nhanh chóng của đề tài nghiên cứu về quản trị công ty gia đình, các tạp chí chuyên nghiên cứu về công ty gia đình được thành lập từ năm 1988 đến 2011 và nhanh chóng chiếm giữ thứ hạng rất cao trong danh sách các tạp chí khoa học về quản trị kinh doanh là Family Business Review, Journal of Family Business Strategy, và Journal of Family Business Management (Rovelli & ctg. Điều này cho thấy sự cần thiết bổ sung kiến thức khoa học về vai trò của hình thức sở hữu gia đình trong quản trị công ty.
Khi các nghiên cứu khoa học về sở hữu gia đình phát triển mạnh, các nhánh nghiên cứu được mở rộng cả về chiều sâu lẫn chiều rộng. Về chiều sâu, các nghiên cứu được thực hiện chuyên biệt trong những lĩnh vực quan trọng của khoa học quản trị, tiêu biểu trong số đó là quản trị hiệu quả kinh doanh (Dyer, 2018), cấu trúc vốn (Hansen & Block, 2021), quản trị rủi ro và tài chính (Gottardo & Moisello, 2017). Về chiều rộng, tiếp sau các nghiên cứu ở các nước phát triển, các nền kinh tế đang phát triển và các đặc điểm quốc gia cụ thể cũng được tập trung nghiên cứu trong mười năm gần đây, đặc biệt là các nền kinh tế trong khu vực châu Á với đặc thù văn hóa phương Đông, trong đó có Việt Nam (Dinh & Calabro, 2018). 5 Bên cạnh đó, sự phát triển nhanh chóng của các nền kinh tế cũng thường đi kèm với khủng hoảng và các giai đoạn khó khăn, từ quy mô toàn cầu như khủng hoảng tài chính, đại dịch Covid-19 cho đến các khủng hoảng cục bộ theo quốc gia, theo ngành.
Do đó, lý thuyết khoa học về quản trị tài chính và cấu trúc vốn của các công ty cũng cần thiết bổ sung nghiên cứu trong bối cảnh khủng hoảng hoặc công ty gặp khó khăn (Muhammad & ctg. Theo lý thuyết hành vi đại diện, đứng trước bối cảnh khó khăn hoặc khủng hoảng, người đại diện công ty ra quyết định sẽ có tâm lý e ngại thua lỗ hơn là tâm lý e ngại rủi ro (Jiao & ctg.