Chương 1: Giới thiệu tổng quan nội dung luận văn và vấn đề nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết về các yếu tố tác động đến số thu thuế và tổng quan các nghiên cứu trước đây. Chương 3: Mô hình nghiên cứu và Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách 1. Hạn chế của luận văn Do phạm vi thu thập dữ liệu còn hạn chế, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu các yếu tố tác động đến số thu thuế như: các biến thuộc nhóm quản trị nhà nước, GDP bình quân đầu người, lạm phát, viện trợ, độ mở thương mại, thời gian nộp thuế, giá trị sản xuất nông nghiệp, giá trị sản xuất công nghiệp do vậy chưa thấy TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 được tác động của yếu tố khác. Dữ liệu thu thập trong khoảng thời gian ngắn sau khủng hoảng kinh tế thế giới 2008 nên có nhiều biến động.
Do đó có thể chưa đánh giá đầy đủ tác động của yếu tố quản trị nhà nước đến số thu thuế khi được nghiên cứu sâu, xem xét trong nhiều thời kỳ. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỐ THU THUẾ VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2. Tổng quan về thuế 2.
Thuế và vai trò của thuế Thuế gắn liền với sự tồn tại, phát triển của Nhà nước và là một công cụ quan trọng mà bất kỳ quốc gia nào cũng sử dụng để thực thi chức năng, nhiệm vụ của mình. Tùy thuộc vào bản chất của Nhà nước và cách thức Nhà nước sử dụng, các nhà kinh tế có nhiều quan điểm về thuế khác nhau. Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của nhà nước để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng của nhà nước. Theo Điều 4, Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11 của Quốc hội khoá XI Kỳ họp thứ 10 ngày 29/11/2006 của nước ta khẳng định: “Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước.
Nộp thuế theo quy định của pháp luật là nghĩa vụ và quyền lợi của mọi tổ chức, cá nhân. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tham gia quản lý thuế”. Như vậy, thuế là một bộ phận của cải xã hội được tập trung vào ngân sách nhà nước, theo đó các cá nhân và tổ chức phải đóng góp một phần của cải mình cho nhà nước và khoản này không mang tính hoàn trả trực tiếp. Thuế phản ảnh các quá trình phân phối lại thu nhập trong xã hội, thể hiện các mối quan hệ tài chính giữa nhà nước và các chủ thể khác trong xã hội.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, với sự thay đổi phương thức can thiệp của Nhà nước vào hoạt động kinh tế, thuế đóng vai trò hết sức quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Vai trò của thuế được thể hiện trên các khía cạnh sau đây: Một là, thuế là công cụ chủ yếu tập trung nguồn thu NSNN. Với chức năng phân phối lại thu nhập quốc dân, thuế bằng nhiều cách hình thành nên nguồn tài chính tập trung lớn nhất phục vụ cho chi tiêu công cộng, đó là TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Trong tất cả các nguồn, số thu về thuế chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng số thu NSNN.
Đây là nguồn thu ổn định nhất được kế hoạch hoá tốt trên cơ sở dự báo kế hoạch và tiềm năng phát triển kinh tế của đất nước. Hai là, thuế là công cụ điều hoà thu nhập, thực hiện công bằng xã hội. Một trong những khiếm khuyết của nền kinh tế thị trường là sự phân hóa giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội. Chính vì vậy, Nhà nước cần phải can thiệp vào quá trình phân phối thu nhập, của cải của xã hội.
Thuế là công cụ quan trọng mà Nhà nước sử dụng để tác động trực tiếp vào quá trình này, dưới các hình thức: thuế trực thu và thuế gián thu. Ba là, thuế góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển. Thuế trong cơ chế thị trường không chỉ đóng vai trò là nguồn thu chủ yếu của NSNN mà còn là một công cụ làm đòn bẩy để thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển. Theo quan điểm công bằng, bất kỳ một tổ chức, cá nhân khi đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp thuế của mình với đất nước, họ được quyền thụ hưởng và cung ứng những lợi ích công cộng nhất định và được tạo thuận lợi nhất cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình.
Bên cạnh đó, phụ thuộc vào chủ trương kinh tế đất nước mà Nhà nước có thể dùng thuế để tác động, tạo thuận lợi hơn cho hoạt động kinh doanh ở một số ngành, vùng để khuyến khích sản xuất, kinh doanh phát triển nhằm tạo ra một cơ cấu hợp lý hơn. Bốn là, thuế là công cụ để thực hiện kiểm tra, kiểm soát các hoạt động sản xuất kinh doanh. Vai trò này được xuất hiện trong quá trình tổ chức thực hiện các luật thuế trong thực tế: thông qua công tác quản lý thu thuế có thể kiểm tra, kiểm soát toàn diện các mặt hoạt động của các cơ sở kinh tế, đảm bảo thực hiện tốt quản lý nhà nước về mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Chức năng của thuế: Huy động nguồn lực tài chính cho nhà nước, hình thành quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước để đảm bảo nhà nước thực hiện các chức năng của mình.
Ngoài ra thuế còn có chức năng điều tiết kinh tế thông qua các quy định của chính sách thuế về đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế, mức thuế suất…, chính sách miễn, giảm thuế nhằm thúc đẩy các hoạt động kinh tế đi đúng theo định hướng của nhà nước, phù hợp lợi ích của xã hội. Đặc điểm của thuế Thuế là khoản thu nộp bắt buộc vào ngân sách nhà nước, đây là một hình thức phân biệt thuế và các hình thức động viên khác của ngân sách nhà nước. Tính bắt buộc của thuế thể hiện ở chỗ, đối với người nộp thuế thì buộc phải chuyển giao một phần tài sản của mình để thực hiện nghĩa vụ nộp thuế với nhà nước, nếu không thực hiện thì sẽ bị áp dụng những biện pháp cưỡng chế cần thiết. Còn đối với cơ quan thu thuế thì tính bắt buộc thể hiện ở chỗ, cơ quan thu thuế buộc phải thực hiện việc thu thuế đối với mọi tổ chức cá nhân có nghĩa vụ là như nhau.
Thuế gắn với quyền lực nhà nước. Để thuế phát huy vai trò của mình đối với xã hội thì nhà nước đã pháp luật hóa thuế thành hệ thống pháp luật, từ đó buộc mọi cá nhân phải tuân thủ. Chỉ gắn với yếu tổ quyền lực thì thuế mới đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ tạo nguồn tài chính cho ngân sách nhà nước. Thuế không mang tính đối giá, không hoàn trả trực tiếp.
Không như phí và lệ phí chỉ được nộp khi đối tượng nộp đã nhận được một lợi ích ngay từ phía nhà nước thì thuế là khoản bắt buộc mà người nộp thuế phải nộp cho nhà nước khi có những điều kiện nhất định. Khi nộp thuế người nộp sẽ không được nhận lại một số tiền tương đương với khoản thuế đã nộp mà chỉ nhận được những lợi ích không thể xác định dưới dạng vật chất như: yên bình xã hội, sự phát triển kinh tế… đó là tính không hoàn trả trực tiếp của thuế. Số tiền thuế phải nộp không phụ thuộc vào mức độ hưởng lợi ích của người nộp thuế. Phân loại thuế TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Tùy vào những căn cứ khác nhau mà chia thuế thành nhiều loại.
Căn cứ vào phương thức đánh thuế có hai loại cơ bản là thuế trực thu và thuế gián thu. Thuế trực thu là những loại thuế mà người nộp thuế chính là người chịu thuế như: thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp… còn thuế gián thu là thuế mà người nộp thuế không đồng thời là người chịu thuế như: thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng. Như vậy, thuế gián thu hạn chế được phản ứng thuế từ người gánh chịu thuế vì tiền thuế đã được bao gồm trong sản phẩm hàng hóa dịch vụ nhưng nó lại tạo ra sự bất bình đẳng về điều tiết thu nhập của những đối tượng có thu nhập chênh lệch. Căn cứ vào đối tượng chịu thuế thì có thuế đánh vào tài sản, thuế đánh vào thu nhập và thuế tiêu dùng.
Thuế đánh vào tài sản là các loại thuế như thuế sử dụng đất… Thuế đánh vào thu nhập gồm thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân và thuế đánh vào tiêu dùng thì có thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng… Căn cứ vào khả năng nộp thuế có thể chia hệ thống thuế thành hai loại: Thuế thực và thuế cá nhân. Thuế thực là loại thuế không dựa vào khả năng của người nộp thuế. Thuế thực bao gồm: Thuế điền thổ, thuế nhà cửa, thuế tài sản. Thuế cá nhân là loại thuế dựa trên khả năng của người nộp thuế, là thuế đánh vào thu nhập của người nộp thuế và được thu ngay từ khâu phát sinh thu nhập hoặc do khai báo.
Các loại thuế cá nhân bao gồm: Thuế thu nhập cá nhân, thuế lợi tức, thuế thu nhập công ty, thuế doanh nghiệp, thuế lợi nhuận siêu ngạch… Ngoài những tiêu chí phân loại thuế trên đây thì còn rất nhiều tiêu chí đánh giá khác phụ thuộc vào mục đích của người nghiên cứu đánh giá. Tuy nhiên dù được phân loại là thuế gì thì thuế cũng giữ vai trò quan trọng trong việc tạo nguồn thu ngân sách nhà nước. Lý thuyết công bằng thuế Lý thuyết công bằng cho rằng mọi người mong đợi một tỷ lệ tương đương giữa số thuế phải nộp và phúc lợi cho họ. Lý thuyết công bằng cho rằng nếu tỷ lệ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 tương đương không tồn tại thì sẽ thúc đẩy sự thay đổi phần đóng góp (Cuccia & Carnes, 2001).
Công bằng theo chiều dọc: nguyên tắc là các nhóm có nhiều nguồn lực hơn so với các nhóm có nguồn lực thấp hơn thì phải nộp thuế nhiều hơn. Liên quan đến công bằng theo chiều dọc, hàm phúc lợi xã hội theo thuyết vị lợi kêu gọi phân phối nguồn lực nhóm người tiêu dùng có mức thoả dụng thấp đến nhóm người tiêu dùng có mức thoả dụng biên cao hơn. Công bằng theo chiều dọc đạt được khi những người có thu nhập cao nộp một tỷ lệ lớn hơn tiền thuế trong thu nhập của họ.