Chương 1 : Cơ sở lý luận của nghiên cứu Chương này phân tích các lý thuyết, mô hình kinh tế được sử dụng trong luận văn. Các lý thuyết, mô hình kinh tế ở đây bao gồm, mô hình nền kinh tế mở EB-IB, căn bệnh Hà Lan và chính sách kinh tế thuận chu kì và tác động của nó. Chương 2 : Tác động dòng vốn vào đối với nền kinh tế, kinh nghiệm ứng phó của các quốc gia Chương này đi vào phân tích tác động (tích cực và tiêu cực) của dòng vốn vào đối với nền kinh tế và nghiên cứu các kinh nghiệm ứng phó (thành công hay thất bại) của các quốc gia để từ đó rút ra các bài học chính sách. Chương 3 : Tổng quan về nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2000-2008 Chương này phân tích tổng quan nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2000-2008.
Trong đó, chú trọng đánh giá vai trò quan trọng của đầu tư và xuất nhập khẩu đối với nền kinh tế. Đồng thời cũng chỉ ra những trục trặc trong đầu tư và xuất nhập khẩu để chứng minh tính không bền vững cơ cấu kinh tế trong giai đoạn này. Chương 4 : Dòng vốn vào và bất ổn vĩ mô ở Việt Nam Chương này sẽ thống kê dòng vốn vào Việt Nam giai đoạn 2000-2008 và chứng minh sự thất bại của NHNN trong việc hấp thụ dòng vốn vào đã làm cung tiền tăng mạnh, từ đó kích hoạt lạm phát và những trục trặc khác trong nền kinh tế. Những bất ổn trong nền kinh tế được mô hình hóa theo sơ đồ bên dưới 1 Từ 15% GDP ở Mexico năm 1994-95 hay lên đến trên 50%GDP như ở Argentina năm 1980-82, Gần đây, Khủng hoảng tài chính-tiền tệ Châu Á đã làm thu nhập bình quân đầu người của Thái Lan đã giảm từ mức 8.300 USD vào năm 2005, của Indonesia giảm từ 4.700 USD, của Malaysia giảm từ 11.400 USD (Theo CIA World Fact Book) 4 Dòng vốn vào Tín dụng tăng mạnh Tỷ giá thực lên giá, giá cả tăng, ngân Bong bóng tài sản, hiệu ứng sách mở rộng của cải, nợ Thâm hụt thương mại Bất ổn vĩ mô tăng Lạm phát, bong bóng tài sản xì hơi, phá giá, nợ công tăng Chương 5 : Khuyến nghị chính sách.
Trên cơ sở phân tích các nguyên nhân bất ổn, tác giả đưa ra các khuyến nghị chính sách nhằm hai mục tiêu chính đó là xây dựng cơ chế kiểm soát và hấp thụ dòng vốn hiệu quả và cải cách cơ cấu kinh tế theo hướng bền vững hơn. Để làm được điều này đòi hỏi cải cách chính sách tiền tệ, tỷ giá và chính sách ngân sách. CƠ SỞ LÝ LUẬN Nghiên cứu này phân tích tác động dòng vốn vào đến nền kinh tế mở - nhỏ Việt Nam. Do đó, cơ sở lý luận được sử dụng trong nghiên cứu này là các lý thuyết, mô hình kinh tế liên quan đến ảnh hưởng dòng vốn vào đối với nền kinh tế, các chính sách kinh tế ảnh hưởng như thế nào đến sự phân bổ nguồn lực kinh tế và duy trì ổn định nền kinh tế.
Mô hình quản lý nền kinh tế mở - nhỏ (EB-IB) Cơ sở lý luận căn bản được sử dụng trong nghiên cứu này là mô hình quản lý nền kinh tế mở-nhỏ (EB-IB). Mô hình này được hình thành nhằm xây dựng cơ chế để phân tích các chính sách kinh tế vĩ mô mà một quốc gia đang phát triển nên theo đuổi để ổn định lại nền kinh tế và tạo ra môi trường thuận lợi hơn giúp tăng trưởng kinh tế nhanh. Mô hình có nội dung như sau: Nền kinh tế đạt trạng thái cân bằng khi có cân bằng ngoài nước tức là cung hàng ngoại thương bằng cầu hàng ngoại thương2 và cân bằng trong nước tức cung hàng không thể ngoại thương bằng cầu hàng không thể ngoại thương. Tại điểm cân bằng này, mức giá tương đối của hàng ngoại thương và hàng phi ngoại thương được xác định P=Pt/PN (cũng chính là tỷ giá hối đoái thực).
Tập hợp những điểm cân bằng trên thị trường hàng phi ngoại thương là đường IB3, tập hợp những điểm cân bằng trên thị trường hàng ngoại thương là đường EB4, giao điểm đường EB và IB là điểm cân bằng của nền kinh tế, gọi là điểm “hạnh phúc”. 2 Đầu tư nước ngoài và viện trợ nước ngoài có thể làm tăng thêm cung hàng có thể ngoại thương bằng cách tài trợ cho các hàng nhập khẩu nên cung hàng ngoại thương bao gồm cả dòng chảy vào của vốn nước ngoài dài hạn dưới hình thức viện trợ, cho vay thương mại, và đầu tư (theo M. Perkins et al., Kinh tế học của sự phát triển) 3 Bên phải đường IB là tình trạng lạm phát, bên trái là tình trạng thất nghiệp 4 Bên phải đường EB là tình trạng thặng dư, bên trái là tình trạng thâm hụt 6 BỐN KHU VỰC TRỤC TRẶC PT/PN EB Thặng dư Lạm phát Thặng dư Thất nghiệp E Thâm hụt Lạm phát E: điểm “hạnh phúc” Thâm hụt Thất nghiệp IB A Y=A Khi nền kinh tế chệch khỏi điểm cân bằng, nó sẽ rơi vào một trong bốn khu vực trục trặc (hình trên). Mặc dù nền kinh tế có khuynh hướng tự điều chỉnh để trở lại điểm cân bằng, tuy nhiên trong một số trường hợp khả năng tự điều chỉnh của nền kinh tế gặp khó khăn (thất bại thị trường), đây là cơ sở cho sự can thiệp của Chính phủ.
Khi Chính phủ can thiệp, có bốn vùng chính sách (hình dưới), các công cụ mà Chính phủ sử dụng là tỷ giá hối đoái và chính sách chi tiêu. 7 BỐN VÙNG CHÍNH SÁCH IV I Tỷ A 0 giá A 0 hối đoái e 0 e 0 thực e 0 e 0 III A 0 A 0 II Tổng cầu Mô hình EB-IB là cơ sở lý thuyết rất quan trọng đối với các nước đang phát triển có nền kinh tế mở nhỏ trong việc thực hiện các chính sách ổn định hóa nền kinh tế, tạo môi trường kinh tế ổn định cho phát triển dài hạn. Căn bệnh Hà Lan Là hiện tượng suy giảm công nghiệp hóa của nền kinh tế khi có lượng ngoại tệ lớn vào (do việc khám phá nguồn tài nguyên xuất khẩu lớn, giá hàng xuất khẩu chủ lực tăng hay dòng vốn đầu tư vào lớn…) làm đồng nội tệ lên giá dẫn đến hàng hóa sản xuất trong nước giảm sức cạnh tranh so với hàng nước ngoài, xuất khẩu giảm và nhập khẩu tăng5. Căn bệnh Hà Lan có thể được giải thích bởi mô hình EB-IB như sau.
Khi có nguồn ngoại tệ vào lớn mà không có chính sách vô hiệu hóa đủ tốt, nguồn cung hàng ngoại thương tăng lên với bất kì giá nào, tức là đường EB dịch sang phải (EB’). Cơ chế tự 5 Châu Văn Thành 2009 8 điều chỉnh sẽ đẩy nền kinh tế dịch chuyển từ điểm cân bằng 1 sang điểm cân bằng 2 với tỷ giá hối đoái thực giảm và tổng cầu tăng. PT/PN EB’’ EB Vốn cạn kiệt EB’ (3) Vốn vào (1) (2) IB A Tỷ giá hối đoái thực giảm đồng nghĩa với hai điều, thứ nhất hàng phi ngoại thương trở nên tăng giá một cách tương đối so với hàng ngoại thương, thứ hai hàng hóa sản xuất trong nước trở nên kém cạnh tranh hơn so với hàng hóa nước ngoài. Các nhà sản xuất hàng hóa có thể ngoại thương bị giảm lợi nhuận sẽ dịch chuyển nguồn lực (vốn và lao động) sang lĩnh vực có lợi nhuận cao hơn là hàng phi ngoại thương.
Kết quả là sự thay đổi trong cơ cấu sản xuất, trong đó năng lực sản xuất hàng ngoại thương giảm sút, hàng phi ngoại thương gia tăng. Một biến cố nào đó làm cho nguồn tiền không đổ vào nữa sẽ đẩy đường EB về vị trí cũ, tuy nhiên do cơ cấu sản xuất đã thay đổi nên EB không trở về vị trí cũ mà dịch chuyển xa hơn sang bên trái (đường EB”), cân bằng mới được hình thành với tỷ giá hối đoái tăng cao hơn ban đầu, thu nhập thấp hơn. Nền kinh tế bị suy giảm. Trong nghiên cứu này, các dẫn chứng từ các nước và cả trường hợp Việt Nam, dòng vốn vào (dòng vốn đầu tư) đã làm đồng nội tệ lên giá dẫn đến thâm hụt thương mại và những biểu hiện của căn bệnh Hà Lan.
Chính sách kinh tế thuận chu kì và ảnh hưởng của nó đến nền kinh tế Chính sách kinh tế thuận chu kì có nghĩa là các nước tiến hành chính sách kinh tế mở rộng (chính sách tài khóa, tiền tệ,…) khi có lạm phát và tiến hành chính sách kinh tế thắt chặt khi có suy thoái. Ngược lại người ta gọi là chính sách kinh tế nghịch chu kì. Các nước đang phát triển thường có chính sách kinh tế thuận chu kì do thiếu các công cụ bình ổn tự động. Các khoản chi ngân sách chủ yếu là tiêu dùng của Chính phủ và tiền lương, các nước này hiếm có các khoản bảo hiểm thất nghiệp, và chuyển nhượng xã hội rất thấp do đó chi ngân sách thường thuận chu kì.
Các khoản thu ngân sách chủ yếu là thuế gián thu chứ không phải thuế trực thu, nên cũng rất theo chu kì. Nghiên cứu của Kaminsky, Reinhart và Vegh 2004 cho thấy xu hướng thuận chu kì trong chính sách kinh tế của các nước đang phát triển. Các dòng vốn vào ròng có tính thuận chu kì ở các nước đang phát triển. Điều này hàm ý rằng các nước có xu hướng vay nợ nhiều hơn ở thời kì kinh tế thuận lợi và ngược lại Chính sách ngân sách và chính sách tiền tệ ở các nước đang phát triển phần lớn có tính thuận chu kì.
Điều này có nghĩa là Chính phủ chi tiêu nhiều hơn, cung tiền cao hơn, tín dụng cao hơn ở thời kì kinh tế thuận lợi và ngược lại. Chu kì dòng vốn và chu kì chính sách kinh tế thường tăng cường lẫn nhau. Người ta gọi đây là hiện tượng “trời mưa, nước trút”, tức là chính sách vĩ mô mở rộng khi dòng tiền chảy vào và thắt chặt khi dòng tiền chảy ra. Chính sách kinh tế thuận chu kì ở các nước tạo ra chu kì “bùng – vỡ” trong nền kinh tế mà ở đó khi kinh tế bùng nổ, dòng vốn vào và chính sách kinh tế mở rộng đã làm gia tăng lạm phát, bong bóng tài sản, tín dụng tăng, thâm hụt thương mại gia tăng,… kết quả làm nền kinh tế trở nên quá nóng, nợ xấu tăng, dòng vốn chảy ra, nợ công tăng, cầu giảm,… đưa nền kinh tế đi vào suy thoái (bong bóng vỡ).