Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến môi trường ở khu vực Đông Nam Á giai đoạn 2002-2021 Chương 2: Lựa chọn mô hình, phương pháp thống kê nghiên cứu tác động của nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng môi trường và Phân tích, đánh giá kết quả nghiên cứu của tác động đầu tư trực tiếp nước ngoài đến chất lượng môi trường ở khu vực Đông NamÁ giai đoạn 2002-2021 CHUONG 1: TONG QUAN NGHIÊN CỨU VE TÁC DONG CUA DAU TU TRUC TIEP NUOC NGOAI DEN CHAT LUQNG MOI TRUONG Ở KHU VUC DONG NAM A GIAI DOAN 2002-2021 1. Một sô van dé cơ ban về dau tư trực tiép nước ngoài 1. Khái niệm về dau tư trực tiép nước ngoài Quyền kiểm soát là tiêu chí cơ bản giúp phân biệt giữa FDI và đầu tư chứng khoán. Hoạt động đầu tư FDI ngày càng trở nên phổ biến và có mặt nhiều ở các quốc gia khắp nơi trên thế giới hiện nay.
Bản chất của hoạt động đầu tư này tuy giống nhau nhưng có nhiều cách hiểu khác nhau tùy theo từng khía cạnh xem xét. Theo Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF): “FDI là một hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp”. Theo Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) thì FDI được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp, đặc biệt là những khoản đầu tư mang lại quyền kiểm soát trực tiếp đối với việc vận hành doanh nghiệp với các hình thức có thé kế đến như: Thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tư; Mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có; Tham gia vào một doanh nghiệp mới; và Cấp tín dụng dài hạn. Còn UNCTAD xác định: “FDI là đầu tư có mối liên hệ, lợi ích và sự kiểm soát lâu dai của một pháp nhân hoặc thé nhân (nhà dau tư trực tiếp nước ngoài hoặc công ty mẹ) đối với một doanh nghiệp ở một nền kinh tế khác (doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài hoặc chỉ nhánh nước ngoài hoặc chi nhánh doanh nghiệp)”.
Mục đích của nhà đầu tư khi cung nguồn FDI chính là được nắm quyền quản lý doanh nghiệp đó ở quốc gia tiếp nhận. Mặt khác, WTO cho răng: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở nước khác (nước thu hút đầu tư) đi cùng với quyền quản lý số tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác”. Khái niệm này nhấn mạnh rang FDI là một tài sản.
Phương điện quản lý là thứ dé phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong trường hợp này, nhà đầu tư thường được gọi là “công ty mẹ” và các tài sản được gọi là “công ty con” hay “chi nhánh công ty”. Nhìn chung, các định nghĩa của các tô chức nói trên, về cơ bản là thông nhất với nhau về mối quan hệ, vai trò và lợi ích của nhà đầu tư và thời gian trong hoạt động FDI. Định nghĩa FDI được quốc tế chấp nhận rộng rãi nhất hiện nay do IME và UNCTAD đưa ra dựa trên khái niệm về cán cân thanh toán.
Tóm lại, tuy còn có nhiều định nghĩa về FDI nhưng về cơ bản ta có thể rút ra răng FDI là hình thức đầu tư quốc tế dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác băng toàn bộ hay phần vốn đủ lớn cho một dự án để năm quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát một phần dự án đó. Các cá nhân hay công ty nước ngoài này sẽ là người trực tiếp quản lý, điều hành việc sử dụng vốn, chịu trách nhiệm và hưởng lợi từ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh dựa trên mức độ góp vốn. Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài Có rất nhiều hình thức khác nhau khi thực hiện đầu tư, cụ thể: Theo cách thức xâm nhập; Theo định hướng đầu tư hay Theo hình thức pháp lý. Theo cách thức xâm nhập, dau tư trực tiếp nước ngoài có những hình thức sau: Đầu tư mới (new investment) là việc một công ty đầu tư nhằm xây dựng những cơ sở sản xuất, marketing hay cơ sở hành chính mới thay vì thực hiện mua lại những cơ sở sản xuất kinh doanh đang hoạt động.
Đúng như theo tên gọi của nó, doanh nghiệp đầu tư thường mua một không gian trống và xây dựng nhà máy sản xuất, chỉ nhánh bán hàng hoặc các cơ sở khác dé phục vu cho mục đích sử dụng của mình. Hãng Ford là một ví dụ điển hình khi xây dựng một nhà máy rất lớn ở bên ngoài Valencia, Tây Ban Nha. Mua lại (acquisitions) là việc đầu tư bằng cách thua mua trực tiếp một công ty đang hoạt động hay cơ sở sản xuất kinh doanh đang hoạt động của nó. Ví dụ nhà sản xuất máy tính Lenovo của Trung Quốc đã toàn cầu hóa thương hiệu của mình bằng cách thức thu mua lại tương đối chiến lược.
Năm 2004, Lenovo tiến hành mua lại hoạt động kinh doanh PC của IBM, với giá trị vô cùng thấp chỉ vào khoảng hai phần ba doanh thu của hãng năm 2005. Cuộc mua bán này đầy tham vọng này đã mang đến cho Lenovo những tài sản vô cùng giá trị mà không chỉ tiền bạc như là thương hiệu và mạng lưới phân phối. Điều này đã biến Lenovo nhanh chóng trở thành một công ty có tầm ảnh hưởng toàn cầu. Sáp nhập (merge) là một hình thức đặc biệt hơn so với hình thức mua lại.
Khi được sáp nhập, hai công ty sẽ cùng góp vốn chung dé thành lập một công ty mới và lớn hơn. Sáp nhập được ưu tiên hơn giữa các công ty có cùng quy mô bởi vì họ có khả năng hợp nhất các hoạt động kinh doanh của mình trên cơ sở cân bằng tương đối. Tương tự như liên doanh, sáp nhập đem lại nhiều kết quả tích cực, bao gồm sự học hỏi và chia sẻ nguồn lực lẫn nhau, tăng lợi nhuận của công ty đồng thời làm giảm chi phí khi loại bỏ những hoạt động thừa thai không can thiết, đa dạng hóa mặt hàng và dịch vụ bán hàng kéo theo tiềm năng thị trường lớn hơn. Tuy nhiên, sự khác biệt về vị trí địa lý làm cho việc sáp nhập gặp phải nhiều khó khăn, thách thức.
Sự khác biệt về ngôn ngữ, văn hóa, phong tục tập quán, nhu cầu đời sống hay chính sách kinh tế chung của nhà nước cũng là một rào cản lớn làm cho việc sáp nhập trở nên khó nhan hơn. Dé thành công, doanh nghiệp đầu tư phải thực sự tìm hiểu và nghiên cứu, lập kế hoạch và ấn định những cam kết rõ ràng. Theo định hướng nước dau tư, dau tư trực tiếp nước ngoài có những hình thức sau: FDI thay thé nhập khâu: Mỗi quốc gia lại có lợi thé riêng về mat hàng xuất khẩu vì vậy nên thông qua hình thức này, nước đầu tư được hỗ trợ nhập khẩu những mặt hàng ở nước nhận đầu tư mà trước đây nước đó phải nhập khẩu từ quốc gia khác. Tuy nhiên, dung lượng thị trường, hàng rào thương mại của và chi phí vận tải của nước nhận đầu tư là yếu tổ chi phối.
FDI tăng cường xuất khẩu: Thị trường mà hoạt động đầu tư này “nhắm” tới không không chỉ dừng lại ở quốc gia sở tại tiếp nhận đầu tư mà còn ở các thị trường có quy mô lớn hơn trên toàn cầu thậm chí cả thị trường ở chính nước chủ đầu tư. Các yếu tố quan trọng tác động đến dòng FDI theo hình thức này là khả năng cung ứng các yếu tố đầu vào giá rẻ. FDI theo các định hướng khác của chỉnh phủ: Chính phủ nước nhận đầu tư có thé được khuyến khích áp dụng chính sách đầu tu dé điều chỉnh dòng FDI chảy vào trong nước theo đúng mục đích của mình, ví dụ như tăng cường thu hút FDI dé giải quyết tình trạng thâm hụt cán cân thanh toán. Theo hình thức pháp lý, đầu tư trực tiếp nước ngoài có rất nhiễu hình thức có thể kê dén như: Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài: là hình thức truyền thống và phổ biến nhất của EDI.
Ở hình thức này, các nhà đầu tư không chỉ chú trọng đến việc khai thác những lợi thế của nước sở tại còn còn thực hiện áp dụng các tiễn bộ khoa học công nghệ, khoa học quản lý dé hoạt động kinh doanh đạt được lợi nhuận nhất. Hình thức này được ưu ái tiếp nhận ở doanh nghiệp nhỏ nhưng cũng không loại trừ các dự án có quy mô lớn. Về hình thức pháp lý, theo Luật Doanh nghiệp 2005, hình thức này bao gồm loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phan. Thành lập doanh nghiệp liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài: Có thé nói hình thức nay là vô cùng phổ biến va phố biến nhất từ trước tới nay.
Việt Nam cũng không phải là một ngoại lệ, điển hình là trong quá trình thu hút đầu tư FDI. DNLD là doanh nghiệp được thành lập tại quốc gia nội địa trên cơ sở hợp đồng liên doanh ký giữa Bên hoặc các Bên nước chủ nhà với Bên hoặc các Bên nước ngoài để đầu tư kinh doanh tại nước đó. Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp liên doanh phần lớn chịu sự ảnh hưởng của môi trường kinh doanh có thé kế đến như các yếu tố kinh tế, chính trị, mức độ hoàn thiện pháp luật, trình độ của các đối tác liên doanh của nước tiếp nhận đầu tư. Đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC): Hợp đồng hợp tác kinh doanh là hình thức đầu tư được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản pham mà không thành lập pháp nhân.
Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh không thành lập pháp nhân riêng và mọi hoạt động BCC phải dựa vào pháp nhân của nước nhận đầu tư. Hệ quả là nhà đầu tư không có quá nhiều quyền kiểm soát hiệu quả đối với các hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, hình thức này khá đơn giản nên không yêu cầu cao về thủ tục pháp lý phù hợp với các nước bắt đầu có chính sách tiếp nhận FDI.