CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN TỚI ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1 Các nghiên cứu về tác động lấn át của đầu tư công đối với đầu tư tư nhân Thứ nhất, các nghiên cứu phân tích tác động lấn át của đầu tư công tới đầu tư tư nhân trong phạm vi một quốc gia cụ thể, hoặc một nhóm các quốc gia. Pradhan, Ratha và Sarma (1990) khi kiểm tra về tác động của đầu tư công tới đầu tư tư nhân tại Ấn Độ trong giai đoạn 1990-2000 với mô hình cân bằng tổng thể (CGE) đã chỉ ra rằng đầu tư công lấn át đầu tư tư nhân. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng mức độ lấn át của đầu tư công tới đầu tư tư nhân phụ thuộc vào cách thức chính phủ tài trợ cho đầu tư công. Cụ thể, mức độ lấn át cao nhất khi chính phủ vay nợ trên thị trường vốn vay.
Trong khi đó, Bilgili (2003) sử dụng dữ liệu của Thổ Nhĩ Kỳ trong giai đoạn 1988-2003 với phương pháp VECM đã chỉ ra tác động lấn át của đầu tư công tới đầu tư tư nhân. Cụ thể, đầu tư công tăng lên 1%, đầu tư tư nhân sẽ giảm đi 0. Tương tự Pradhan, Ratha và Sarma (1990), Bahal và cộng sự (2015) cũng nghiên cứu tác động của đầu tư công tới đầu tư tư nhân tại Ấn Độ tuy nhiên trong giai đoạn dài hơn (1950 – 2012) với mô hình hiệu chỉnh sai số VECM (Vector Error Correction Model). Nhận thức được những thay đổi lớn về cấu trúc nền kinh tế Ấn Độ đã trải qua trong ba thập kỷ qua, nhóm tác giả đã nghiên cứu xem liệu đầu tư công trong những năm gần đây có trở nên bổ sung ít hay nhiều cho đầu tư tư nhân vào so với giai đoạn trước năm 1980 hay không.
Nghiên cứu chỉ ra rằng đầu tư công lấn át đầu tư tư nhân từ năm 1950 đến năm 2012. Bên cạnh đó, nghiên cứu của Nazmi và Ramirez (1997) xem xét tác động của đầu tư công, đầu tư tư nhân tới tăng trưởng kinh tế tại Mexico giai đoạn 1940-1991với phương pháp bình phương nhỏ nhất hai giai đoạn 2 SLS (Two Statge Ordinary Least Squares). Kết quả cho thấy đầu tư công và đầu tư tư nhân đều tạo tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế tuy nhiên đầu tư công có tác động mạnh hơn tới tăng trưởng kinh tế. Đồng thời nghiên cứu cũng chỉ ra đầu tư công tạo tác động lấn át tới đầu tư tư nhân.
Cụ thể, đầu tư công tăng 1% sẽ làm cho đầu tư tư nhân nhân giảm 0. Tại Việt Nam, Tô Trung Thành (2012) sử dụng số liệu thu thập từ 1986-2010 tại Việt Nam với mô hình VECM nhằm mục đích nghiên cứu liệu đầu tư công tác động tiêu cực hay tích cực đến đầu tư tư nhân. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng hiện tượng đầu tư công lấn át đầu tư tư nhân được thể hiện rõ nét. Theo đó, sau một thập niên, đầu tư công tăng 1% sẽ khiến đầu tư tư nhân bị thu hẹp 0,48%.
Hoàng Dương 9 Việt Anh (2013) sử dụng mô hình VAR trong nghiên cứu về tác động đầu tư công đến tăng trưởng tại vùng Trung Bộ Việt Nam giai đoạn 1986-2011 đã chỉ ra được vai trò của đầu tư công, đầu tư tư nhân với tăng trưởng cũng như tác động của đầu tư công tới đầu tư tư nhân. Theo đó, đầu tư công cũng có thể lấn át đầu tư tư nhân trong việc sử dụng nguồn lực khan hiếm, do đó tác động xấu đến tăng trưởng. Phạm Thị Linh (2016) đã sử dụng đồng thời biện pháp định tính và định lượng với mô hình VAR để đánh giá tác động của đều tư công tới đầu tư tư nhân ở Việt Nam giai đoạn từ qúy 3 năm 2004 đến quý 4 năm 2015. Kết quả cho thấy đầu tư tư nhân bị lấn át bởi đầu tư công tại Việt Nam.
Nghiên cứu cũng chỉ ra đầu tư tư nhân bị chèn lấn ở ba khía cạnh: hoạt động, vốn và cơ hội. Các nghiên cứu của Lê Văn Cường (2010), Huỳnh Văn Mười Một (2017), Văn Hà & cộng sự (2022) cũng cho thấy tác động lấn át của đầu tư công tới đầu tư tư nhân tại Việt Nam. Bên cạnh các nghiên cứu tác động lấn át của đầu tư công tới đầu tư tư nhân trong phạm vi một quốc gia thì còn có các nghiên cứu phân tích đối với một nhóm các quốc gia. Everhart và Sumlinski (2001) nghiên cứu tác động của đầu tư công tới đầu tư tư nhân với dữ liệu bảng không cân bằng tại 63 nước đang phát triển trong giai đoạn 1970-2000.
Kết quả cho thấy đầu tư công tạo tác động lấn át tới đầu tư tư nhân tại hầu hết các quốc gia mà có thể chế kém. Tương tự, Cavallo và Daude (2008) phân tích ảnh hưởng của đầu tư công đến đầu tư tư nhân với phương pháp hồi quy khoảnh khắc GMM (Generalized Method of Moments). Nghiên cứu sử dụng số liệu dạng bảng của 116 quốc gia đang phát triển trong giai đoạn 1980 đến 2006 cho thấy hiệu ứng lấn át khá rõ rệt. Tuy nhiên mức độ lấn át của đầu tư công giảm bớt, thậm chí còn có thể tác động khuyến khích đầu tư tư nhân, ở những quốc gia được đánh giá có thể chế tốt hơn và có tính mở cao hơn với dòng thương mại và đầu tư quốc tế.
Theo đó, tăng đầu tư công sẽ tạo tác động lấn át tới đầu tư tư nhân với các quốc gia có tỷ lệ nợ công/GDP lớn. Đồng thời nghiên cứu cũng chỉ ra ngưỡng đầu tư công có thể tạo ra tác động lấn át tới đầu tư tư nhân. Trong khi đó, Erden và Holcom (2005) phân tích tác động đầu tư công đối với đầu tư tư nhân không chỉ trong phạm vi nhóm nước phát triển mà còn mở rộng sang phạm vi nhóm nước phát triển. Nghiên cứu được thực hiện với phương pháp tối thiểu 10 dạng gộp POLS (Pool OLS), phương pháp tác động cố định FE (Fixed Effect), phương pháp tác động ngẫu nhiên RE (Random Effect) với bộ dữ liệu bảng bao gồm 12 quốc gia phát triển trong giai đoạn 1980-1996 và 19 quốc gia đang phát triển trong giai đoạn 1980-1997.
Kết quả cho thấy đối với nhóm các quốc gia phát triển, đầu tư công tạo tác động lấn át. Tương tự, Mahmoudzadeh và cộng sự (2013) phân tích ảnh hưởng của đầu tư công đối với đầu tư tư nhân trong 23 phát triển và 15 nước đang phát triển từ năm 2000 đến năm 2009 với việc sử dụng mô hình vecto tự hồi quy dạng bảng PVAR (Panel Vector Autoregression). Nhóm tác giả phát hiện ra rằng tăng đầu tư công lấn át đầu tư tư nhân ở các nước phát triển và bổ trợ đầu tư tư nhân ở các nước đang phát triển. Các nghiên cứu của Altin Gjini (2012), A.
Adegboye (2017), Taner Turan và cộng sự (2021) cũng chỉ ra kết quả tương tự. Thứ hai, các nghiên cứu còn phân tách đầu tư công thành các hạng mục đầu tư và nghiên cứu tác động của các hạng mục đó tới đầu tư tư nhân. Pereira (2000) đã phân tích tác động của đầu tư công lên đầu tư tư nhân của Hoa Kỳ dựa trên mô hình vectơ tự động hồi quy VAR (Vector Autoregression) và số liệu trong giai đoạn 1956-1997. Trong nghiên cứu này, tác giả không chỉ đánh giá tác động của đầu tư công lên tổng đầu tư tư nhân mà còn xem xét từng loại đầu tư theo hướng phân tích tác động của 5 loại đầu tư công lên tổng đầu tư tư nhân và từng loại đầu tư tư nhân để xác định loại đầu tư công nào thúc đẩy đầu tư tư nhân.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng về kết quả đối với tác động của từng loại đầu tư công đối với từng loại đầu tư tư nhân, trong khoảng 1/3 trường hợp, đầu tư công lấn át đầu tư tư nhân. Rahman và cộng sự (2015) cũng chia đầu tư công thành các hạng mục khác nhau khi phân tích tác động của đầu tư công tới đầu tư tư nhân cho trường hợp của Pakistan trong giai đoạn 1974-2010. Cụ thể, nghiên cứu chỉ ra đầu tư công bao gồm có chi tiêu của Chính phủ cho sức khỏe, giao thông, thông tin, dịch vụ cộng đồng, quốc phòng. Kết quả cho thấy đầu tư công cho dịch vụ cộng đồng và quốc phòng có tác động lấn át tới đầu tư tư nhân.
Dada (2013) khi phân tích trường hợp của Nigeria cũng cho thấy kết quả tương tự. Cụ thể, đầu tư công cho hành chính, xây dựng, nông nghiệp, thông tin tạo hiệu ứng lấn át tới đầu tư tư nhân. Tương tự, Omitogun & cộng sự (2018) nghiên cứu trường hợp của Nigeria trong giai đoạn 1981-2015 với mô hình tự phân phối độ trễ hồi quy ARDL (Autoregressive Distributed Lag). Nhóm nghiên cứu phân tách đầu tư công thành các hạng mục liên quan tới hành chính, chuyển giao, 11 dịch vụ kinh tế và dịch vụ xã hội.
Kết quả cho thấy đầu tư công cho dịch vụ kinh tế và dịch vụ xã hội có tác động lấn át tới đầu tư tư nhân tại Nigeria. Tuy nhiên, tại Việt Nam, thay vì phân tách đầu tư công thành các hạng mục đầu tư (CSHT và các hạng mục khác) thì các nghiên cứu tập trung phân tích tác động lấn át của đầu tư công theo nguồn vốn đầu tư tới đầu tư tư nhân. Nguyễn Thị Cành & cộng sự (2020) nghiên cứu tác động của cho rằng đầu tư công từ nguồn vốn ngân sách nhà nước tới đầu tư tư nhân cho 16 ngành công nghiệp với mô hình FOLS tại Việt Nam trong giai đoạn 1990-2016. Kết quả cho thấy đầu tư công từ ngân sách nhà nước lấn át đầu tư tư nhân của 16 ngành.
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thùy Liên (2022) cũng cho thấy kết quả lấn át của đầu tư công từ vốn ngân sách nhà nước tới đầu tư tư nhân tại Việt Nam trong giai đoạn 2000-2020. Kết quả tương tự cũng được phát hiện trong nghiên cứu của Ngô Doãn Vịnh (2010), Ngô Thúy Quỳnh (2019), Bùi Minh Chuyên và Nguyễn Ngô Việt Hoàng (2022). Đây cũng là một thực trạng chung tại Việt Nam khi mà nguồn lực chủ yếu của đầu tư công chủ yếu xuất phát từ Ngân sách nhà nước. Mặt khác vốn đầu tư công từ NSNN cho thấy có hiệu quả chưa được như mong muốn và thậm chí có thể nói còn tương đối thấp tại Việt Nam (Ngô Doãn Vịnh và cộng sự, 2021).
Thứ ba, các nghiên cứu còn tập trung về tác động lấn át của đầu tư công tới đầu tư tư nhân trong các ngành, lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế.