Chương 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài Chương 2: Tổng quan các nghiên cứu trước đây Chương 3: Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu Chương 4: Nội dung và kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận 5 2. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2. Vị thế tài sản nước ngoài ròng Tài sản nước ngoài ròng là giá trị tài sản nước ngoài do đại diện trong nước nắm giữ trừ đi giá trị tài sản trong nước do đại diện nước ngoài nắm giữ. Vị thế tài sản nước ngoài ròng được tính bằng cách lấy tài sản nước ngoài ròng trên tài sản trong nước.
Nếu quốc gia có vị thế tài sản nước ròng dương, tức là giá trị tài sản nước ngoài do đại diện trong nước nắm giữ lớn hơn giá trị tài sản trong nước do đại diện nước ngoài nắm giữ. Quốc gia đó được xem là nước chủ nợ. Nếu quốc gia có vị thế tài sản nước ròng âm, tức là giá trị tài sản nước ngoài do đại diện trong nước nắm giữ nhỏ hơn giá trị tài sản trong nước do đại diện nước ngoài nắm giữ. Quốc gia đó được xem là nước mắc nợ.
Quy mô chính phủ Khái niệm quy mô chính phủ được sử dụng trong bài nghiên cứu được hiểu như là tổng chi tiêu của chính phủ trên tổng tài sản quốc gia. Chi tiêu chính phủ là các khoản chi của chính phủ về hàng hóa và dịch vụ được sử dụng cho nhu cầu cá nhân (tiêu dùng cá nhân) hoặc nhu cầu của các thành viên của cộng đồng (tiêu thụ tập thể). Chi tiêu chính phủ bao gồm tất cả các khoản chi thường xuyên của chính phủ cho việc mua bán hàng hóa và dịch vụ (bao gồm cả tiền lương nhân viên), hầu hết các khoản chi tiêu về quốc phòng và an ninh quốc gia, nhưng không bao gồm chi phí quân sự của chính phủ như một phần của sự hình thành vốn của chính phủ. Tổng quan các nghiên cứu trước đây Một số các nghiên cứu trước đây về mặt lý thuyết và thực nghiệm đã được thực hiện để nghiên cứu mối quan hệ giữa tự do hóa và quy mô chính phủ.
Các nghiên 6 cứu này đã giúp xác định quy mô chính phủ và giải thích các mối tương quan giữa quy mô chính phủ và tự do hóa thương mại. Các nghiên cứu về mặt lý thuyết Trong các nghiên cứu về mặt lý thuyết tự do hóa có tương quan cả với quy mô lớn hơn và nhỏ hơn của khu vực công. Các nghiên cứu đã thực hiện nhận thấy có hai hướng kết quả như sau: 2. Xu hướng thứ nhất, theo giả thuyết bù đắp (Compensation hypothesis) Theo giả thuyết bù đắp, nền kinh tế càng tự do hóa sẽ có một khu vực công lớn hơn để bù đắp cho rủi ro bên ngoài cao hơn.
Khi đó chi tiêu chính phủ hoạt động với chức năng hấp thụ các cú sốc quốc gia phải đối mặt. Mối quan hệ giữa tự do hóa thương mại và quy mô chính phủ đã được phân tích và phát triển bởi nhiều nhà nghiên cứu. Nổi bật trong số các nghiên cứu theo xu hướng này là bài nghiên cứu của Rodrik (1998), ông cho rằng "chi tiêu chính phủ được sử dụng để bảo vệ nền kinh tế chống lại nguy cơ bên ngoài". Điều này được giải thích rằng nền kinh tế tự do hóa sẽ tiếp xúc nhiều hơn với những rủi ro xuất phát từ sự hỗn loạn trong thị trường thế giới.
Chúng ta có thể thấy là chi tiêu chính phủ lớn hơn trong nền kinh tế thực hiện một chức năng bảo vệ, khi các khu vực chính phủ là khu vực "an toàn". Do đó ở các nước bị ảnh hưởng đáng kể bởi những cú sốc bên ngoài, chính phủ có thể giảm thiểu rủi ro bằng cách sử dụng một phần lớn hơn các nguồn lực của nền kinh tế. Để tìm hiểu mối tương quan giữa tự do hóa nền kinh tế và quy mô chính phủ, tác giả đã xây dựng một mô hình chung cân bằng đơn giản mà làm rõ cách tiêu dùng của chính phủ có thể làm giảm bớt nguy cơ tiếp xúc với bên ngoài trong điều kiện hợp lý nhất định. Mối tương quan dương giữa tự do hóa nền kinh tế và quy mô chính phủ đúng cho hầu hết các biện pháp đo lường chi tiêu chính phủ.
Bài nghiên cứu của Rodrik đã cung cấp một loạt các bằng chứng củng cố cho cách giải thích là chi 7 tiêu chính phủ đóng vai trò giảm thiểu rủi ro trong nền kinh tế khi đối mặt với các nguy cơ từ bên ngoài. Một nghiên cứu khác theo xu hướng này là Epifani và Gancia (2009). Các tác giả phát hiện rằng có mối tương quan dương và mạnh giữa tự do hóa thương mại và quy mô của chính phủ giữa các quốc gia và theo thời gian dựa trên một tập dữ liệu lớn của 143 quốc gia trong giai đoạn 1950-2000. Bài nghiên cứu tìm hiểu mối quan hệ giữa tự do hóa thương mại và quy mô chính phủ, cả về lý thuyết và thực nghiệm.
Các tác giả cho rằng tự do hóa có thể tăng quy mô chính phủ thông qua hai kênh: thứ nhất, như một phần của ngoại tác thương mại, theo đó thương mại làm giảm chi phí thuế trong nước, thứ hai, như các nhu cầu bảo vệ nền kinh tế, theo đó thương mại tăng rủi ro nên cần tăng quy mô chính phủ để có thể bù đắp rủi ro. Để so sánh và kiểm tra hai cơ chế này các tác giả xây dựng một mô hình cách điệu trong đó tất cả lực lượng lao động đang làm việc, chính phủ thiết lập thuế lao động để tài trợ cho hàng hóa công và cung cấp sự bảo vệ chống lại những cú sốc năng suất. Từ đó các tác giả tìm hiểu sự phụ thuộc của quy mô chính phủ vào mức độ tự do hóa thương mại và các thông số quan trọng. Dự đoán lý thuyết chính của tác giả trong khi cơ chế đầu tiên là không hiệu quả theo quan điểm của phúc lợi thế giới, cơ chế thứ hai là thay thế tối ưu.
Tuy nhiên, một số nghiên cứu cũng đã nghi ngờ về sự vững mạnh của các kết quả ban đầu này và đang tìm kiếm các lý luận đối lập. Qua tìm hiểu hai nghiên cứu nổi bật cho xu hướng giả thuyết bù đắp, chúng ta có thể nhận thấy rằng giả thuyết bù đắp phù hợp để giải thích mối tương quan âm giữa quy mô chính phủ và vị thế tài sản nước ngoài ròng đối với trường hợp đó là nước có vị thế con nợ. Cụ thể là khi các quốc gia ở vị thế con nợ, càng tự do hóa đòi hỏi phải đầu tư công nhiều hơn vào nguồn nhân lực để duy trì hoặc tăng cường khả năng cạnh tranh trong nền kinh tế toàn cầu. Tăng chi tiêu công có thể vừa tăng cường hỗ trợ chính trị cho toàn cầu hóa và hỗ trợ tăng phúc lợi để cung cấp cho thị trường lực lượng lao động có trình độ và cạnh tranh.
Như vậy, một quốc gia sẽ có quy mô lớn hơn khi quốc gia đó ở vị thế con nợ. Xu hướng thứ hai, theo giả thuyết hiệu quả (Efficiency hypothesis) Theo giả thuyết hiệu quả, nền kinh tế càng tự do hóa sẽ tương quan với một khu vực công có quy mô thấp hơn do sự tăng tính di động của yếu tố đầu vào và cạnh tranh về thuế. Giả thuyết hiệu quả cho rằng để mang lại lợi nhuận cao hơn, các rào cản đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ được hạn chế đủ để cung cấp cho chủ sở hữu vốn sự lựa chọn đầu tư ở nước ngoài. Thuế thu nhập làm giảm lợi nhuận có thể sẽ ảnh hưởng đến các quyết định đầu tư.
Ở các thị trường đầu tư cạnh tranh ngày càng cao, các nhà hoạch định chính sách sẽ làm giảm gánh nặng thuế trên vốn để giữ lại các nguồn vốn trong nước hoặc thu hút vốn nước ngoài để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Để ngăn chặn sự cần thiết phải tăng thuế và đóng góp lương nhằm tài trợ cho các khoản chi phúc lợi gia tăng, các nhà hoạch định chính sách sẽ phải cắt giảm lợi ích bất chấp sự yêu cầu của các chương trình phúc lợi xã hội. Cải cách các chính sách phúc lợi để kiểm soát chi tiêu được xem như là một phương tiện đảm bảo tăng trưởng kinh tế tiếp tục đầu tư trong bối cảnh toàn cầu. Một trong những bài nghiên cứu theo giả thuyết hiệu quả là bài nghiên cứu của Alesina và Wacziarg (1998) “Openness, country size and government”.
Bằng cách ước tính các phương trình để xác định quy mô chính phủ và mức độ tự do hóa thương mại và kiểm định bằng phương pháp hồi quy bình phương bé nhất cho những quan sát thực nghiệm bài nghiên cứu tìm thấy rằng quy mô quốc gia có tương quan âm với quy mô chính phủ, và nó cũng tương quan âm với tự do hóa thương mại. Nghiên cứu này xem việc xác định quy mô quốc gia phát sinh từ một sự đánh đổi: các nước lớn có thể đủ khả năng để có các chính phủ nhỏ hơn (và các loại thuế do đó thấp hơn) và họ đã lợi từ một thị trường khá lớn làm từ đó giảm nhu cầu các quốc gia này phải tự do hóa thương mại. Do đó Tuy nhiên, họ phải chịu chi phí của sự không đồng nhất về văn hóa. Hay trong nghiên cứu của Ram (2009) “Openness, country size, and government size: Additional evidence from a large cross-country pannel”, thông qua ước tính mô hình từ dữ liệu bảng của hơn 150 quốc gia trong suốt 41 năm sử dụng ước tính OLS gộp, sử dụng ảnh hưởng cố định (fixed-effects, ông đã nhận thấy rằng có rất 9 ít bằng chứng củng có cho mối tương quan âm giữa quy mô quốc gia và quy mô chính phủ và giữa quy mô quốc gia và tự do hóa.
Do đó, dường như không có khả năng có mối tương quan dương giữa tự do hóa và quy mô chính phủ phát sinh do vai trò trung gian của quy mô quốc gia. Tóm lại, chúng ta có thể nhận thấy rằng giả thuyết hiệu quả phù hợp để giải thích mối tương quan giữa âm giữa quy mô chính phủ và vị thế tài sản nước ngoài ròng đối với trường hợp đó là nước có vị thế chủ nợ. Cụ thể là khi các quốc gia ở vị thế chủ nợ, họ có các lợi thế về nguồn lực và năng lực cạnh tranh. Do đó khi càng tự do hóa các quốc gia này có đủ khả năng giảm thuế thu nhập và các khoản đóng góp tiền lương với mục đích giữ lại các nguồn vốn trong nước hoặc thu hút vốn nước ngoài để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.