Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Cơ sở lý luận về tác động của tỷ giá hối đoái đến cán cân thương mại và tổng quan về đề tài nghiên cứu Chương 3: Xây dựng mô hình nghiên cứu Chương 4: Thực trạng tỷ giá và sự tác động của tỷ giá đến cán cân thương mại Việt Nam giai đoạn 2000-2016 và kết quả nghiên cứu Chương 5: Đề xuất giải pháp tác động tốt đến tình hình tỷ giá nhằm tạo tính cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế 6 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI ĐẾN CÁN CÂN THƢƠNG MẠI VÀ TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 2. Tỷ giá hối đoái 2. Khái niệm tỷ giá hối đoái Theo Paul Anthony Samuelson, tỷ giá hối đoái là tỷ giá để đổi lấy tiền của một nước khác. Với Slatyer, tỷ giá là một đồng tiền của một quốc gia nào đó bằng giá trị của một số lượng tiền của một quốc gia khác (trích bởi Hoàng Thị Chỉnh, Nguyễn Phú Tụ, Nguyễn Hữu Lộc, 2005).
Theo các nhà kinh doanh, tỷ giá hối đoái là sự so sánh mối tương quan giá trị giữa hai đồng tiền phát sinh từ các hoạt động liên quan đến hoạt động kinh tế đối ngoại. Hoặc, một cách tổng quát “tỷ giá hối đoái” là giá của một đồng tiền được biểu thị bằng số lượng đơn vị tiền tệ khác. Theo Luật Ngân hàng Nhà nuớc năm 2010, “tỷ giá hối đoái của đồng Việt Nam là giá cả của một đơn vị tiền tệ nước ngoài tính bằng đơn vị tiền tệ của Việt Nam”. Trong phạm vi đề tài “tỷ giá hối đoái”, “tỷ giá” được sử dụng với cùng một nội dung đó là giá của một đơn vị ngoại tệ tính bằng đồng nội tệ.
Theo Nguyễn Văn Tiến (2009), Nguyễn Thị Tuyết Nga (2012) tỷ giá được bao gồm các khái niệm sau: Tỷ giá danh nghĩa (Nominal Exchange Rate) Là tỷ lệ trao đổi số lượng tuyệt đối giữa hai đồng tiền. Hay, tỷ giá danh nghĩa là giá cả của một đồng tiền đuợc biểu thị thông qua đồng tiền khác. Tỷ giá danh nghĩa song phương - (Norminal Bilateral Exchange Rate) Tỷ giá của hai đồng tiền bất kỳ được gọi là tỷ giá song phương. Sự thay đổi của tỷ giá song phương thể hiện sự lên hoặc xuống giá của đồng tiền này so với đồng tiền kia.
Khi tỷ giá tăng, đồng tiền yết giá sẽ đổi được nhiều đồng tiền định giá hơn, nên gọi là lên giá 7 (appreciation); đồng tiền định giá trở nên đổi được ít đồng yết giá hơn, nên gọi là giảm giá (depreciation). Khi tỷ giá giảm, đồng tiền yết giá sẽ đổi được ít đồng tiền định giá hơn, nên gọi là giảm giá (depreciation); đồng tiền định giá trở nên đổi được nhiều đồng yết giá hơn, nên gọi là lên giá (appreciation). Trên thị trường hối đoái, giá trị của một đồng tiền được đo lường bằng nhiều lượng đồng tiền khác. Nói cách khác, tại cùng một thời điểm, trong cùng một thị trường, luôn tồn tại nhiều tỷ giá song phương của một đồng tiền với nhiều đồng tiền khác.
Trên Thế giới có trên 170 đồng tiền, nếu sử dụng trên 170 tỷ giá song phương để tính giá trị của một đồng tiền thì quá phức tạp và không cần thiết. Ðể giải quyết vấn đề này, các nhà kinh tế đã tìm ra một giải pháp hữu hiệu, đó là tỷ giá đa phương (tỷ giá trung bình). Tỷ giá đa phương - Effective Exchange Rate: Cách xác định tỷ giá đa phương (tỷ giá trung bình) tương tự cách tính chỉ số giá trung bình. Nếu chỉ số giá trung bình phản ảnh sự thay đổi mặt bằng giá cả chung và được tính dựa vào sự biến động giá của một rổ hàng hoá chuẩn; thì tỷ giá đa phương được tính dựa vào sự thay đổi giá trị của một đồng tiền so với một rổ đồng tiền chuẩn.
Thông thường tỷ giá đa phương được xác định dựa trên tỷ giá danh nghĩa song phương được gọi là tỷ giá danh nghĩa đa phương (NEER) Tỷ giá danh nghĩa đa phương (Nominal Effective Exchange Rate – NEER) là tỷ giá phản ánh giá trị trung bình của một đồng tiền so với hai hay nhiều đồng tiền khác. Xác định NEER dựa trên tỷ trọng thương mại giữa một nước với nhóm các nước có đồng tiền tham gia trong rổ. Tỷ giá thực (Real Exchange Rate): Tỷ giá thực đo luờng giá cả tương quan của hàng hoá giữa hai quốc gia. Tỷ giá thực được xác định bằng cách so sánh giá quốc tế của hàng hoá đuợc tính bằng đồng tiền yết giá với giá trong nuớc của hàng hoá được tính bằng đồng tiền định giá.
Tương quan giữa tỷ giá thực và tỷ giá danh nghĩa được biểu diễn bằng công thức sau: ER= E* P*/ P 8 Trong đó, - ER: tỷ giá thực (dạng chỉ số). - E: tỷ giá danh nghĩa. - P*: Mức giá nước ngoài bằng ngoại tệ. - P: Mức giá trong nước bằng nội tệ.
Tỷ giá thực đa phương (Real Effective Exchange Rate – REER) được xác định bằng tỷ giá danh nghĩa đa phương đã được điều chỉnh bởi tỷ lệ lạm phát ở trong nước với tất cả các nước có đồng tiền tham gia trong rổ, do đó nó là một chỉ số phản ánh mức độ cạnh tranh về giá cả của quốc gia và là cơ sở để đánh giá đồng nội tệ bị định giá cao hay thấp. Khi REER lớn hơn 100 đồng nội tệ bị định giá thấp, ngược lại REER nhỏ hơn 100 đồng nội tệ bị định giá cao và REER bằng 100 đồng nội tệ có ngang giá sức mua so với rổ tiền tệ. Một số loại tỷ giá thông dụng 2. Căn cứ vào nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối Căn cứ vào nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối, tỷ giá hối đoái được chia ra làm 2 loại: Tỷ giá mua: là tỷ giá mà ngân hàng mua ngoại hối vào.
Tỷ giá bán: là tỷ giá mà ngân hàng bán ngoại hối ra. Tỷ giá mua bao giờ cũng thấp hơn tỷ giá bán và khoảng chênh lệch đó (SPREAD) là lợi nhuận kinh doanh ngoại hối của ngân hàng. Căn cứ cơ chế điều hành chính sách tỷ giá hối đoái Căn cứ vào chế độ quản lý tỷ giá, tỷ giá hối đoái được chia ra thành tỷ giá cố định và tỷ giá thả nổi: Tỷ giá cố định (Tỷ giá chính thức) là tỷ giá do NHTW công bố và không thay đổi trong một khoảng thời gian. 9 Tỷ giá thả nổi (Tỷ giá thị trường) là tỷ giá được hình thành theo quan hệ cung cầu ngoại hối.
Tỷ giá này biến động thường xuyên thùy theo tình hình cung cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại hối. Căn cứ vào phương diện thanh toán quốc tế Tỷ giá tiền mặt: là loại tỷ giá áp dụng cho các ngoại tệ tiền mặt, séc, thẻ tín dụng. Tỷ giá chuyển khoản: là tỷ giá áp dụng cho các trường hợp giao dịch thanh toán ngoại hối được thực hiện bằng cách chuyển khoản qua ngân hàng. Loại tỷ giá này thường thấp hơn tỷ giá tiền mặt do khi sử dụng tỷ giá chuyển khoản không cần phải có sự xuất hiện của một lượng tiền mặt thực sự, do vậy giảm được chi phí lưu thông tiền mặt.
Căn cứ vào thời điểm mua bán ngoại hối Tỷ giá mở cửa: là tỷ giá chào hàng đầu tiên của một ngày giao dịch. Nó có thể là tỷ giá chào hàng vào đầu giờ giao dịch hay tỷ giá mua bán ngoại hối của phiên giao dịch đầu tiên trong ngày làm việc. Tỷ giá đóng cửa: là tỷ giá vào cuối giờ giao dịch hay tỷ giá mua bán ngoại hối của phiên giao dịch cuối cùng trong ngày làm việc. Trong giao dịch ngoại, thông thường các ngân hàng không thông báo tất cả tỷ giá của các hợp đồng ký trong ngày mà chỉ công bố tỷ giá mở cửa và tỷ giá đóng cửa.
Hai tỷ giá này có mối quan hệ mật thiết với nhau, tỷ giá mở cửa thường được hình thành trên cơ sở tỷ giá đóng cửa của ngày hôm trước có tham khảo sự biến động tỷ giá trên thị trường quốc tế trong đêm đó. Căn cứ vào thời điểm chuyển vốn, tỷ giá hối đoái đƣợc chia ra thành Tỷ giá giao ngay: là tỷ giá được áp dụng trong giao dịch mà việc chuyển vốn, thanh toán xảy ra đồng thời với thời điểm ký hợp đồng (đồng thời ở đây được hiểu theo nghĩa trong phạm vi 02 ngày làm việc kể từ ngày ký hợp đồng mua bán ngoại hối). 10 Tỷ giá kỳ hạn (forwards): là tỷ giá được áp dụng trong giao dịch mà việc chuyển vốn được tiến hành sau 1 thời gian nhất định, theo 1 tỷ giá được xác định trước vào thời điểm ký kết hợp đồng. Căn cứ vào hình thức thanh toán sử dụng Tỷ giá điện hối: là tỷ giá mua bán ngoại hối mà ngân hàng có trách nhiệm chuyển ngoại hối bằng điện.
Tỷ giá điện hối là tỷ giá làm cơ sở xác định các loại tỷ giá khác. Tỷ giá thư hối: là tỷ giá mua bán ngoại hối mà ngân hàng có trách nhiệm chuyển ngoại hối bằng thư. Tỷ giá thư hối nhỏ hơn tỷ giá điện hối do chi phí chuyển bằng thư rẻ hơn chuyển bằng điện. Ngoài ra, việc chuyển ngoại hối bằng thư chậm hơn do đó người ta phải tính lãi phát sinh trong thời gian đó và được khấu trừ vào tỷ giá.
Tỷ giá check: là tỷ giá được xác định trên cơ sở bằng tỷ giá điện hối trừ đi số tiền lãi phát sinh theo số ngày cần thiết của bưu điện để chuyển check từ nước này sang nước khác. Tỷ giá hối phiếu: là tỷ giá được xác định bằng tỷ giá điện hối trừ đi số tiền lãi phát sinh tính từ lúc ngân hàng mua hối phiếu cho đến lúc hối phiếu đó được trả tiền. Căn cứ vào mối quan hệ tỷ giá với chỉ số lạm phát, tỷ giá hối đoái được chia ra thành tỷ giá danh nghĩa và tỷ giá thực: Tỷ giá danh nghĩa (E): Là giá cả của một đồng tiền được biểu thị thông qua đồng tiền khác mà chưa đề cập đến tương quan sức mua hàng hoá và dịch vụ giữa chúng. Tỷ giá danh nghĩa là tỷ giá phổ biến được sử dụng hàng ngày trong giao dịch trên các thị trường ngoại hối.
Tỷ giá thực: Là tỷ giá được xác định trên cơ sở tỷ giá danh nghĩa đã được điều chỉnh bởi tỷ lệ lạm phát giữa trong nước với nước ngoài,do đó nó là chỉ số phản ánh tương quan sức mua giữa nội tệ và ngoại tệ. Từ khái niệm trên tỷ giá thực được xác định theo công thức: Er = E.P*/P Trong đó: Er là tỷ giá thực 11 E là tỷ giá danh nghĩa P* là giá cả ở nước ngoài bằng ngoại tệ P là giá cả ở trong nước bằng nội tệ.