Chương 1. Giới thiệu tổng quan Trình bày lý do nghiên cứu, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa của nghiên cứu và kết cấu của luận văn nghiên cứu. Cơ sở lý thuyết Trình bày các khái niệm, lý thuyết, các vấn đề liên quan đến đề tài và các nghiên cứu trước. Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu Trình bày phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu, mô hình nghiên cứu và định nghĩa các biến, nguồn dữ liệu, các giả thuyết nghiên cứu.
Kết quả nghiên cứu Phân tích kết quả nghiên cứu: Phân tích mô tả thống kê dữ liệu nghiên cứu, kết quả phân tích của mô hình kinh tế lượng; Xác định mức độ tác động của các yếu tố, đặc biệt là của yếu tố tự do hóa thương mại đến doanh thu thuế ở các nước đang phát triển Châu Á. Kết luận và kiến nghị chính sách Trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu, gợi ý một số chính sách. Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài. Học viên thực hiện: Ngô Thị Tân Huyền – Lớp ME15A 6 Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN Nội dung chương hai sẽ trình bày sơ lược các lý thuyết liên quan đến tự do hóa thương mại và thuế, qua đó làm rõ hơn tác động của tự do hóa thương mại đến doanh thu thuế.
Bố cục của chương hai gồm bốn phần: (i) lý thuyết về tự do hóa thương mại, (ii) lý thuyết về thuế, (iii) lý thuyết về tác động của tự do hóa thương mại đến doanh thu thuế, và (iv) tổng quan các nghiên cứu trước có liên quan. Lý thuyết về tự do hóa thương mại 2. Thương mại và thương mại quốc tế Khái niệm về thương mại của Ngân hàng thế giới (World Bank): Thương mại là tổng kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ được đo lường như là một phần của tổng sản phẩm trong nước. Luật thương mại (2005) của Việt Nam có đưa ra cách hiểu về hoạt động thương mại như sau: “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”.
Như vậy, thương mại được hiểu là một hoạt động kinh tế nhằm thực hiện việc trao đổi của cải, hàng hóa, dịch vụ giữa hai hay nhiều đối tác với nhau. Theo cách hiểu về thương mại thì thương mại quốc tế là các hoạt động trao đổi hàng hoá dịch vụ giữa các quốc gia với nhau, thường là thông qua các hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu hàng hoá dịch vụ. Thương mại nói chung và thương mại quốc tế nói riêng có vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế của một quốc gia. Thương mại là cầu nối giữa sản xuất và tiêu dùng do đó nó có vai trò là một tác nhân quan trọng thúc đẩy sản xuất phát triển, góp phần làm tăng trưởng kinh tế và ngược lại, kinh tế phát triển sẽ tạo điều kiện thúc đẩy phát triển thương mại ở trình độ cao hơn.
Trên cơ sở trao đổi thương mại, các quốc gia sẽ có điều kiện tập trung vào sản xuất các lọai hàng hóa dịch vụ Học viên thực hiện: Ngô Thị Tân Huyền – Lớp ME15A 7 mà mình có lợi thế sau đó trao đổi để có được những loại hàng hóa dịch vụ không có lợi thế khi được sản xuất ở quốc gia đó. Như vậy, các hoạt động thương mại này một mặt sẽ giúp thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của người dân của các quốc gia và mặt khác nó còn thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh trong nước hiệu quả hơn. Thương mại quốc tế là lĩnh vực quan trọng nhằm tạo điều kiện cho các nước tham gia vào phân công lao động quốc tế, phát triển kinh tế làm giàu cho đất nước (Krugman và ctg, 2012). Tự do hóa thương mại Theo Tổ chức thương mại thế giới (WTO), chính sách thương mại tự do là những chính sách cho phép hàng hóa và dịch vụ lưu chuyển không giới hạn trên thế giới.
Trung tâm WTO - Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam cho rằng tự do thương mại quốc tế với các Hiệp định, Thỏa thuận thương mại song phương, đa phương được đàm phán, ký kết và thực thi nhằm tự do hóa từng bước thương mại quốc tế giữa các quốc gia, vùng lãnh thổ, giúp các hoạt động thương mại xuyên biên giới được thuận lợi, giảm thiểu các rào cản và các rủi ro khác. Từ điển thuật ngữ tài chính, chứng khoán Investopedia định nghĩa: Tự do hóa thương mại là việc loại bỏ hoặc giảm các hạn chế hay những rào cản về tự do trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia. Điều này bao gồm việc loại bỏ hoặc giảm các trở ngại về thuế quan, như thuế và phụ phí, và những trở ngại phi thuế quan như quy định cấp giấy phép, hạn ngạch và các yêu cầu khác. Xét về bản chất thì tự do hóa thương mại thường bắt nguồn từ việc cắt giảm và loại bỏ thuế quan và các chính sách bóp méo thương mại, khuyến khích tự do tiếp cận thị trường, tự do đầu tư, tự do di chuyển vốn và lao động giữa các nước.
Như vậy, tự do hoá thương mại liên quan đến việc loại bỏ các rào cản thương mại giữa các quốc gia khác nhau và khuyến khích thương mại tự do. Từ các nội dung trên, có thể xem tự do hóa thương mại là một thuật ngữ chỉ sự dỡ bỏ dần dần hoặc hoàn toàn các rào cản hiện tại giữa các quốc gia đối với thương mại hàng hóa và dịch vụ và trong một số trường hợp cả với đầu tư. Học viên thực hiện: Ngô Thị Tân Huyền – Lớp ME15A 8 2. Những nội dung chủ yếu của tự do hóa thương mại 2.
Cắt giảm dần thuế quan Rào cản thuế quan là rào cản phổ biến nhất và mang tính truyền thống trong thương mại quốc tế, được xác định và phân loại trên cơ sở các mức thuế áp dụng đối với hàng hoá nhập khẩu và xuất khẩu như thuế phi tối huệ quốc, thuế tối huệ quốc, thuế quan ưu đãi phổ cập, thuế quan áp dụng đối với khu vực thương mại tự do, thuế quan ưu đãi chuyên ngành. Thuế quan được áp dụng trước hết là nhằm mục đích tăng nguồn thu ngân sách cho chính phủ, sau đó là vì những mục đích khác như ngăn chặn hàng nhập khẩu và bảo vệ hàng trong nước, trả đũa một quốc gia khác, bảo vệ một ngành sản xuất quan trọng hay còn non trẻ của nước mình. Hiện nay, do loại hàng rào thuế quan có bản chất mâu thuẫn với tiến trình tự do hoá thương mại, nên loại rào cản này có xu hướng ngày càng bị hạn chế trong quan hệ thương mại. Thuế quan là biện pháp bảo hộ cụ thể và mang tính định lượng rõ ràng nhất nên việc nhượng bộ trong đàm phán về cắt giảm thuế thường dễ dàng hơn so với việc thương lượng xoá bỏ các hình thức bảo hộ thương mại khác.
Do đó, tự do hóa thương mại thường đồng nghĩa với việc các quốc gia buộc phải cắt giảm đáng kể các loại thuế quan trong các giao dịch thương mại quốc tế. Giảm dần và tiến tới loại bỏ hàng rào phi thuế quan Rào cản phi thuế quan bao gồm nhiều loại khác nhau, ví dụ: các biện pháp cấm; hạn ngạch về số lượng hoặc giá trị được phép xuất khẩu hoặc nhập khẩu trong một thời kỳ nhất định; giấy phép xuất khẩu, giấy phép nhập khẩu; thủ tục hải quan; hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT); các biện pháp vệ sinh động - thực vật (SPS); các quy định về thương mại dịch vụ, về sở hữu trí tuệ, bảo vệ môi trường; các quy định chuyên ngành về điều kiện sản xuất, thử nghiệm, lưu thông và phân phối các sản phẩm; các rào cản về văn hoá; các rào cản địa phương… Trước đây, các rào cản phi thuế quan chỉ giới hạn trong phạm vi của thương mại hàng hoá và chủ yếu là các biện pháp hành chính và thuế quan, thì hiện nay, nó đã phát triển ra cả lĩnh vực dịch vụ, thương mại đầu tư, sở hữu trí tuệ và ở mức độ đa quốc gia. Trong các biện pháp trên, hạn ngạch nhập khẩu là công cụ hạn chế Học viên thực hiện: Ngô Thị Tân Huyền – Lớp ME15A 9 thương mại nhiều nhất, bởi vì một sản phẩm dù đã được giảm thuế, thậm chí xuống mức 0% cũng khó có thể thâm nhập thị trường nếu nó chịu sự quản lý bằng hạn ngạch. Do đó, việc dỡ bỏ hạn ngạch cũng là một trong những nhiệm vụ đầu tiên trong quá trình tự do hoá thương mại.
Việc nới lỏng các hàng rào phi thuế quan có thể được thực hiện theo hai cách phổ biến. Một là, chuyển từ việc áp dụng các biện pháp phi thuế quan sang áp dụng thuế quan ở mức bảo hộ tương đương. Hai là, xoá bỏ các biện pháp phi thuế quan mà không sử dụng thuế quan như công cụ bảo hộ thay thế. Việc xoá bỏ dần các rào cản phi thuế quan tuy rất phức tạp và khó khăn nhưng lại là điều kiện tiên quyết cho sự thành công của tiến trình tự do hoá thương mại.
Đảm bảo cạnh tranh công bằng và không phân biệt đối xử Đảm bảo cạnh tranh công bằng và không phân biệt đối xử đòi hỏi các nước dành đãi ngộ cho hàng hóa, doanh nghiệp của các nước khác không được “thấp hơn” sự đãi ngộ mà hàng hóa và doanh nghiệp trong nước được hưởng. Cần xoá bỏ các biện pháp cạnh tranh không bình đẳng như: trợ cấp xuất khẩu, bán phá giá, cấp tín dụng xuất khẩu ưu đãi… ; mục đích là đảm bảo hàng hóa nhập khẩu và hàng hoá trong nước, doanh nghiệp nước ngoài và doanh nghiệp trong nước có cùng vị trí cạnh tranh bình đẳng, không bị phân biệt đối xử. Bên cạnh đó, nguyên tắc này cũng đòi hỏi các nước phải công khai và minh bạch hoá các chính sách, pháp luật về kinh tế và thương mại, thuận lợi hoá các thủ tục và quy định có liên quan đến giao dịch thương mại nhằm tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho hoạt động thương mại. Đo lường tự do hóa thương mại Tự do hóa thương mại có thể được đo lường thông qua các chỉ số trực tiếp được tính toán hoặc đánh giá dựa trực tiếp vào các công cụ của chính sách thương mại như rào cản thuế quan, hạn ngạch, tỷ giá hối đoái… hoặc qua chỉ số gián tiếp được tính toán từ những giao dịch thực tế đã xảy ra.