Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Thiếu năng lượng trường diễn ở phụ nữ tuổi sinh đẻ 1. Chỉ số khối cơ thể WHO đã đưa ra khái niệm chỉ số khối cơ thể (Body Mass Index-BMI) để đánh giá tình trạng dinh dưỡng của người trưởng thành. Theo định nghĩa này thì BMI được tính bằng tỷ số giữa cân nặng cơ thể tính bằng kilôgam (kg) với chiều cao bình phương tính bằng mét (m) [148].
Cân nặng (kg) BMI = Chiều cao2 (m) Chỉ số khối cơ thể là ước lượng thành phần cơ thể có liên quan giữa cân nặng và chiều cao của mỗi cá thể với khối nạc của cơ thể. Do đó BMI là chỉ số hiệu chỉnh cân nặng với vóc dáng của cơ thể. Giá trị BMI cao có thể nói rằng có hiện tượng thừa dự trữ mỡ. Ngược lại, giá trị BMI thấp cho biết giảm dự trữ mỡ.
Chính vì vậy, BMI là công cụ chẩn đoán đối với cả thừa cân-béo phì và suy dinh dưỡng protein năng lượng. Chỉ số BMI cũng có liên quan với tỷ lệ tử vong. Những người có BMI thấp hơn thường có tuổi thọ cao hơn [86]. Thiếu năng lượng trường diễn Thiếu năng lượng trường diễn là tình trạng mà một cá thể ở trạng thái thiếu cân bằng giữa năng lượng ăn vào và năng lượng tiêu hao dẫn đến cân nặng và dự trữ năng lượng của cơ thể thấp.
Cho nên, người đó khó có thể đạt được kích thước bình thường hoặc trải qua nhiều giai đoạn thiếu năng lượng. Những người thiếu năng lượng trường diễn có chuyển hoá năng lượng thấp hơn bình thường và giảm hoạt động thể lực dẫn đến khẩu phần ăn vào thấp hơn bình thường [111]. Tình hình thiếu năng lượng trường diễn ở PNTSĐ trên thế giới và ở Việt Nam 1. Tình hình thiếu năng lượng trường diễn ở PNTSĐ trên thế giới Theo báo cáo của ACC/SCN năm 1992 cho thấy tỷ lệ CED của phụ nữ tuổi sinh đẻ từ 15-49 tuổi cao nhất ở Châu Á, khu vực Nam Á là 41,1%; Khu vực Đông Nam Á là 40,5%.
Tỷ lệ này ở khu vực Nam Phi là 22,4% và thấp nhất là khu vực Nam Mỹ (7,2%). Cho đến nay, Nam Á vẫn là khu vực có tỷ lệ CED cao nhất. Ấn Độ là một trong những quốc gia có tỷ lệ phụ nữ tuổi sinh đẻ bị CED thuộc diện cao nhất trên thế giới và khu vực Nam Á. Một số kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ CED ở Ấn Độ là trên 41% và ở mức độ nặng về ý nghĩa sức khoẻ cộng đồng [59], [93], [120].
Banglades cũng là một quốc gia thuộc khu vực Nam Á có tỷ lệ phụ nữ tuổi sinh đẻ bị CED ở mức cao và tương tự với Ấn Độ là 43% [58], [63], [82], [117], [124]. Tình trạng dinh dưỡng của phụ nữ tuổi sinh đẻ tại khu vực Đông Nam Á trong thời gian qua cũng được cải thiện đáng kể. Năm 1992, tỷ lệ CED là 40,5%. Tỷ lệ CED của phụ nữ tuổi sinh đẻ ở Indonesia rất thấp và giảm nhanh từ năm 1996 là 17% xuống còn 3% năm 2000 [74], [144].
Năm 2008, tỷ lệ CED của phụ nữ tuổi sinh đẻ ở Campuchia là 20% [99]. Châu Phi là châu lục có tỷ lệ CED ở phụ nữ tuổi sịnh đẻ khá là thấp. Ở châu Phi cận Sahara, theo kết quả phân tích số liệu điều tra dinh dưỡng đại diện cho 26 quốc gia từ năm 1995-2006 cho thấy tỷ lệ CED của phụ nữ tuổi sinh đẻ là 10,4% [133]. Hầu hết các quốc gia đều có tỷ lệ CED dưới 20%.
Trong số đó, cộng hoà Công Gô, Ethiopia, Nizeria, Zambia có tỷ lệ này trên 20%. Đặc biệt Ethiopia có tỷ lệ CED ở phụ nữ tuổi sinh đẻ trên 30% và Tanzania là 49% [100], [145]. Tình hình thiếu năng lượng trường diễn của PNTSĐ ở Việt Nam Việt Nam đang ở trong giai đoạn chuyển tiếp và chịu gánh nặng kép về 5 dinh dưỡng. Bên cạnh việc gia tăng tỷ lệ thừa cân béo phì thì CED vẫn là vấn đề có ý nghĩa sức khoẻ cộng đồng [10].
Theo kết quả tổng điều tra dinh dưỡng của Việt Nam qua các thời kỳ cho thấy, tình trạng dinh dưỡng của phụ nữ đã được cải thiện đáng kể. Tỷ lệ CED của phụ nữ tuổi sinh đẻ đã giảm từ 33,1% năm 1990 xuống 26,3% năm 2000, năm 2005 là 20,9% và đến năm 2009 tỷ lệ này còn 18,5% [5], [46], [48], [51]. Một số nghiên cứu về tình trạng dinh dưỡng của PNTSĐ trong những năm vừa qua cũng cho thấy xu hướng giảm tỷ lệ CED của nhóm đối tượng này. Theo Phạm Văn Hoan và cộng sự, tình trạng dinh dưỡng của PNTSĐ tại huyện Thường Tín giảm đáng kể trong vòng 10 năm.
Tỷ lệ CED giảm từ 39,1% năm 1995 xuống còn 28,8% năm 2004 [43]. Trong khi đó nghiên cứu của Đinh Phương Hoa và cộng sự tại 6 xã của huyện Lục Nam tỉnh Bắc Giang cho thấy tỷ lệ CED của PNTSĐở đây còn ở mức rất cao (39,1%) [7]. Trần Nguyên Đức và cộng sự đã đánh giá tình trạng dinh dưỡng của phụ nữ từ 15-49 tuổi tại huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai cho thấy tỷ lệ CED ở đây là 10,3% [44]. Đây là một tỷ lệ khá thấp so với toàn quốc.
Một nghiên cứu của Hồ Thu Mai và cộng sự tại huyện Côn Đảo cho thấy tỷ lệ CED của phụ nữ tuổi sinh đẻ là 14% trong khi đó tỷ lệ thừa cân béo phì lại ở mức cao là 53,2% (với ngưỡng BMI>23) [15]. Lai Châu và Kontum là 2 tỉnh có tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em cao nhất toàn quốc nhưng tỷ lệ CED của phụ nữ tuổi sinh đẻ ở 2 tỉnh này ở mức tương đối thấp (21,8% và 8,8%). Điều này phù hợp với kết quả các nghiên cứu khác , Tây Nguyên là vùng có tỷ lệ CED thấp nhất trên toàn quốc [5], [13], [14], [43], [44], [46], [48]. Sở dĩ, tỷ lệ CED của phụ nữ tuổi sinh đẻ ở Tây Nguyên thấp nhất trên toàn quốc là do chiều cao trung bình của phụ nữ ở đây thấp hơn so với những vùng khác [51].
Nếu xét theo vùng sinh thái thì vùng Nam Trung bộ là nơi có tỷ lệ phụ nữ tuổi sinh đẻ bị CED cao nhất. Năm 2000, tỷ lệ CED của phụ nữ tuổi sinh đẻ ở 6 Nam Trung bộ là 29,1% [47] và năm 2005, tỷ lệ này tăng lên 31,17% [48]. Nguyên nhân và hậu quả của CED 1. Nguyên nhân của CED CED là tình trạng bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố.
Nguyên nhân chính của CED là thiếu năng lượng khẩu phần. Thiếu an ninh thực phẩm hộ gia đình, thiếu kiến thức do thiếu giáo dục, thiếu nước sạch và vệ sinh môi trường và dịch vụ y tế kém được xem là nguyên nhân tiềm tàng dẫn đến CED. Do đó có nhiều nguyên nhân có thể dẫn đến tình trạng CED [89]. Hậu quả của CED CED gậy ra nhiều hậu quả cho phụ nữ tuổi sinh đẻ.
Những người bị CED dễ mắc các bệnh nhiễm trùng và giảm khả năng đáp ứng miễn dịch dẫn đến chậm hồi phục khi mắc bệnh. CED làm tăng nguy cơ tử vong con và có liên quan chặt chẽ với tình trạng dinh dưỡng của những đứa trẻ do họ sinh ra. Hàng năm có khoảng 500 ngàn phụ nữ trên toàn thế giới tử vong do mang thai và sinh nở. Suy dinh dưỡng ở bà mẹ có liên quan trực tiếp với bệnh tật thể hiện bằng nhiễm trùng phức tạp và làm tăng nguy cơ này ở cả mẹ và con.
Liên qua giữa CED của mẹ với cân nặng sơ sinh thấp và chậm phát triển bào thai đã được chứng minh. CED cũng làm tăng tình trạng thiếu vi chất dinh dưỡng do đó dẫn đến các biểu hiện thiếu vi chất đặc hiệu như thiếu máu, các rối loạn do thiếu I ốt v.v…Ngoài ra, CED còn ảnh hưởng xấu đến kinh tế hộ gia đình và của quốc gia do làm giảm khả năng lao động và có thể tạo ra những ảnh hưởng xấu qua nhiều thế hệ. Những quốc gia có tình trạng CED phổ biến chắc chắn có liên quan tới chi phí trực tiếp bao gồm giảm thu nhập ở những nhóm dân cư bị CED và phải đối mặt với những vấn đề lâu dài về sau như cân nặng sơ sinh thấp, tăng nguy cơ mắc bệnh tim mạch và đái tháo đường khi trưởng thành. Giảm năng suất lao động kết hợp với bệnh tật ở phụ nữ bị CED chưa được chứng minh rõ ràng nhưng nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng 60% tử vong ở trẻ dưới 5 tuổi có liên quan tới suy dinh dưỡng và suy 7 dinh dưỡng ở trẻ có liên quan chặt chẽ với tình trạng CED của mẹ.
Một báo cáo từ châu Á cho thấy CED giảm 10-15% năng suất lao động và 5-10% GDP. Do đó, cải thiện tình trạng dinh dưỡng của phụ nữ thì quốc gia có thể giảm chi phí chăm sóc y tế, tăng khả năng nhận thức, tăng năng xuất lao động cảu người trưởng thành và góp phần phát triển điều kiện kinh tế xã hội của quốc gia [89]. Phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng và một số khái niệm 1. Phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng Ở người trưởng thành, nếu chỉ dùng chỉ tiêu cân nặng và chiều cao riêng rẽ sẽ không đánh giá được tình trạng dinh dưỡng mà cần phối hợp giữa cân nặng với chiều cao.
Trước khi WHO đưa ra phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng dựa vào Chỉ số khối cơ thể (BMI), người ta dùng khái niệm chung là cân nặng “nên có” hay “thích hợp”. Có nhiều công thức tính cân nặng “nên có” như sau: - Công thức Broca Cân nặng “nên có” (kg) = Cao (cm)-100 - Công thức Lozentz (cao-150) Cân nặng “nên có” (kg) = Cao (cm)-100- 4 - Công thức Bongard Cao (cm) x Vòng ngực (cm) Cân nặng “nên có” (kg) = 240 - Công thức của cơ quan bảo hiểm Mỹ Cân nặng “nên có” (kg) = 50 - 0,75 (cao – 150) Các công thức này đều có giá trị riêng của chúng nhưng có nhược điểm là ở một người nhất định, chúng cho những trị số khác nhau về cân nặng “nên có”, do đó khi dùng cần nhất quán [11]. 8 Từ năm 1994, WHO khuyến nghị cách phân loại tình trạng dinh dưỡng của người trưởng thành dựa vào chỉ số khối cơ thể [111], [138].