phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn được trình bày trong 4 chương: CHUONG 1: Tổng quan nghiên cứu, cơ sở lý luận về truyền thông trong CTTCMR CHƯƠNG 2: Phương pháp nghiên cứu CHƯƠNG 3: Đánh giá về công tác truyền thông trong CTTCMR tại thị trân Lam Sơn CHƯƠNG 4: Hàm ý chính sách và một số kiến nghị nâng cao công tác truyền thông trong CTTCMR tại thi tran Lam Son CHUONG 1. TONG QUAN NGHIEN CUU, CO SO LY LUAN VE TRUYEN THONG TRONG CHUONG TRINH TIEM CHUNG MO RONG 1. Tong quan tài liệu nghiên cứu 1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu trong nước Tại hội thảo “Nâng cao hiệu quả truyền thông về công tác y tế”(2015), Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến đã khăng định vai trò quan trọng của truyền thông trong đời sống kinh tế xã hội nói chung và ngành y tế nói riêng: nhờ truyền thông mà nhiều thành tựu y học đã đến gần hơn với người dân, các thành tựu khoa học công nghệ được nhiều người biết đến, các tuyến đưới có thể tiếp cận, nhiều dịch bệnh lớn không xâm nhập vào nước ta; truyền thông cũng giúp cho cán bộ lãnh đạo ngành biết được những van dé còn tồn tại như chính sách y tế chưa đi vào cuộc sống, an toàn thực phẩm, thủ tục khám chữa bệnh.
Bộ trưởng đánh giá việc tiếp cận với thông tin y tế còn khó khăn, không chỉ tập trung tuyên truyền về chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước mà ngành y tế còn phải truyền thông dự phòng, xử lý rủi ro, nguy cơ về bệnh tật nhằm thay đổi dé đạt hành vi tích cực (Nam Hải, 2015). Cũng tại hội thảo này, Tổng biên tập Báo Kinh tế nông thôn Nguyễn Anh Tuan cũng có bài tham luận “Tai sao phải ưu tiên đối với truyền thông?”. Bài tham luận nêu mấy ý kiến sau: “Thứ nhất, các phương tiện thông tin đại chúng, nhất là trong thời đại Internet phát triển nhanh và mạnh như hiện nay thì việc lan tỏa thông tin là nhanh và rộng nhất. Nếu chỉ thông tin trong hội nghị thì chỉ có vài trăm người, nhiều thì vài ngàn người biết, nhưng cũng tin đó được đưa lên báo thì số người nhận được thông tin là vô cùng lớn và gần như ngay lập tức.
Thứ hai, bằng việc phô biến các thông tin chính xác, các phương tiện thông tin đại chúng sẽ định hướng được dư luận, giảm được những bức xúc không cần thiết. Thứ ba, với vai trò, chức năng của mình, các phương tiện thông tin đại chúng nói chung còn là công cụ giám sát, phản biện xã hội hiệu quả nhất; cô vũ và nhân rộng những việc làm đúng. phê phán những việc chưa đúng. Tóm lại, khi làm tốt công tác truyền thông.
mọi người hiểu và làm tốt việc mình phải làm trong tự chăm sóc sức khỏe bản thân, gia đình. Điều này sẽ giảm áp lực đối với ngành y, giảm chỉ phí cho cả gia đình và xã hội” (Nguyễn Anh Tuan, 2015). Tại Hội nghị sơ kết công tác thông tin, tuyên truyền về phòng, chống dịch Covid-19 (06/2020), đại diện Bộ Thông tin và Truyền thông khăng định báo chí đã thể hiện vai trò xung kích chấp hành đúng các quy định pháp luật và sự chỉ đạo, định hướng thông tin của các cơ quan chức năng, tích cực đấu tranh phản bác các quan điểm thông tin sai lệch, đưa nhiều bằng chứng khang định Dang, Nha nước Việt Nam đã và đang làm hết sức mình dé phòng ngừa, kiểm soát bằng được dịch Covid-19 (Thái Binh, 2020). Kết quả điều tra của Viện Dư luận xã hội (Ban Tuyên giáo Trung ương) cho thấy 84% người được hỏi đánh giá cao công tác thông tin, tuyên truyền nâng cao nhận thức cho nhân dân về phòng chống dịch Covid-19 (Thái Bình, 2020).
Báo cáo của Bộ Thông tin và Truyền thông, từ ngày 01/02 - 31/05/2020 báo chí đã đăng tổng số tin là 560.048 bài về dịch Covid-19, trong đó về sắc thái, tin tích cực chiếm tỷ lệ 41,96%, trung lập chiếm 35,47%, tiêu cực chiếm ty lệ 22,56% (Thái Bình, 2020). Kết quả nghiên cứu của Đào Văn Khuynh và cộng sự (2009) tại Cà Mau cho thấy tỷ lệ trẻ em được tiêm chủng đầy đủ 5 loại vaccine chiếm 77,94% và tiêm đúng lịch 54,62%. Các bà mẹ ở độ tuỗi dưới 30. nghề nghiệp là cán bộ công nhân viên có trình độ học van từ phô thông trung học trở lên thực hiện tiêm đủ liều và đúng lịch cho con tốt hơn so với các mẹ lớn hơn 30 tuổi, nghề nghiệp khác và trình độ học van đến phô thông cơ sở.
Các bà mẹ có nhận thức chung đúng chiếm tỷ lệ 58,19%, vì vậy họ thực hiện tiêm chủng cho con đầy , 8) ° đủ, đúng lịch chiêm tỷ lệ 71,48% so với 31,16% các me có nhận thức chung không đúng (p<0. Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Phúc Duy và cộng sự (2011), cho thấy mối liên hệ giữa tiêm chủng không day đủ với số con của bà mẹ có từ ba con trở lên là 61.9% và từ hai con trở xuống là 38,1%. Trẻ được tiêm chủng day đủ ở nhóm mẹ có học vấn từ cấp II trở lên là 68,8%, nhóm bà mẹ mù chữ và cấp I là 31,2%. Những trẻ có mẹ là cán bộ công chức được tiêm chủng day đủ chiếm tỷ lệ 68,5%, buôn bán 20.5% và làm nông chiếm 11%.
Ở nhóm bà mẹ hiéu đúng lợi ích của tiêm chủng, tỷ lệ trẻ không được tiêm chủng day đủ chỉ chiếm 9,5%, trong khi đó ở nhóm bà mẹ không hiểu đúng là 90,5%. Tỷ lệ các bà mẹ nhận được thông báo về tiêm chủng là 99,5%, không nhận 0,5%. Bên cạnh đó, nhận thay ly do không đem trẻ đi tiêm chủng day đủ vi sợ tai biến do tiêm chủng chiếm tỷ lệ khá cao 27,7% (p < 0,01). Trần Thị Kiệm (2010) thực hiện nghiên cứu về tỷ lệ tiêm chủng từng loại vaccine cơ bản cho trẻ em dưới 5 tuổi đã xác định một số yếu tố ảnh hưởng đến việc chưa tiêm chủng đầy đủ tại Tiên Lãng.
Hải Phòng. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tiêm-chủng đối với từng loại vaccine ở trẻ em dưới 5 tuỗi tại huyện Tiên Lãng đạt mức cao trên 95%, nhưng tỷ tệ tiêm chủng đầy đủ chỉ đạt 93.4% ở trẻ dưới 5 tuổi và 89,84% ở trẻ dưới 1 tuổi thấp hơn so với tỷ lệ trung bình của cả nước. Những yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ tiêm chủng là kinh tế hộ gia đình quá nghèo, nhà ở xa trạm xá và hiểu biết về tiêm chủng cho trẻ em của các bà mẹ là không đúng. Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Nhật Cảm và cộng sự (2016) tại Hà Nội cho thay 84,3% trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ 8 loại vaccine và tỷ lệ tiêm đúng lịch là 42,3%.
Lý do chủ yếu khiến trẻ không được tiêm chủng đúng lịch là do trẻ ốm chiếm 52%, do gia đình chờ tiêm vaccine dịch vụ là 21,7%. Ngoài ra, có môi liên hệ giữa các yêu tô như tuôi, học vân của người mẹ, số thứ tự con, số lần nằm viện của trẻ và khu vực sinh sống của trẻ với việc được tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch. Dang Tuan Dat và cộng sự (2011) đã nghiên cứu hồi cứu va cắt ngang đề đánh giá một số lợi ích về kinh tế và xã hội của CTTCMRở tỉnh Gia Lai giai đoạn 1997-2006. Nghiên cứu sử dụng số liệu gốc hoặc thứ cấp từ các chứng từ, sô chỉ và số cái, báo cáo tài chính của kế toán, số liệu về chỉ phí, tình hình mắc bệnh trong 10 năm từ 1997 đến 2006.
Đồng thời điều tra với cỡ mẫu 899 bà mẹ có con từ 0 - 10 tuổi tại Gia Lai năm 2008 nhằm đánh giá hiểu biết, thực hành của bà mẹ về tiêm chủng vaccine phòng bệnh. Kết quả phân tích lợi ích về kinh tế cho thay: CTTCMR dé phòng bệnh ở Gia Lai là một đầu tư có lợi ích kinh tế y tế cao hơn so với điều trị bệnh; Lợi ích về xã hội: TCMR tỉnh Gia Lai đã bao phủ tới cấp xã và thôn; Tình hình bệnh và dịch bệnh trong các bệnh có vắc xin trong TCMR giảm rõ rệt; Cộng đồng các dân tộc sinh sống ở Gia Lai tham gia tiêm chủng với tỷ lệ 90,7%. Tổng quan tài liệu nghiên cứu ngoài nước Kết quả nghiên cứu của Goldstein và cộng sự (2015) cho thấy truyền thông y tế là một lĩnh vực đang phát triển. Truyền thông đóng vai trò là một công cụ nếu được sử dụng trong một chiến lược tong hop và được hoạch định cần thận, ảnh hưởng đến hành vi của người dân về một số vân đề sức khỏe, bao gồm cả việc do dự tiêm vaccine.
Kinh nghiệm cho thấy một kế hoạch truyền thông cần có bốn bộ phan: (i) sự chủ động; (ii) truyền thông là một quá trình hai chiều; (iii) kiến thức là quan trọng nhưng là không đủ đê thay đôi hành vi; (iv) kết hợp các công cụ truyền thông có sẵn một cách sáng tạo, một chiến lược truyền thông kết hợp với sự lựa chọn thích hợp công cụ truyền thông săn có nên là một phần không thể thiếu của mọi chương trình tiêm chủng, giải quyết các yếu tố cụ thể ảnh hưởng đến sự do dự trong các nhóm dân sô. Kết quả nghiên cứu của Willis và cộng sự (2013) cho thấy truyền thông là chìa khoá của các chương trình tiêm chủng nhưng chúng ta không biết cách tiếp cận dé tô chức một loạt các can thiệp truyền thông có thể cung cấp cho bó mẹ và cộng đồng đề cải thiện tỷ lệ bao phủ vaccine. Có thể chia làm bảy loại can thiệp truyền thông chính: thông báo hoặc giáo dục, nhắc nhở hoặc nhớ lại, dạy các kỹ năng, cung cấp hỗ trợ, tạo điều kiện cho việc ra quyết định, giao tiếp và nâng cao quyền sở hữu cộng đồng. Các danh mục này được chia thành 43 loại can thiệp cho ba nhỏm đối tượng là: bỗ mẹ hoặc chuẩn bị làm bố mẹ, cộng đồng.
thành viên cộng đồng hoặc tình nguyện viên, và các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Case (2015) cho rằng dịch sởi bùng phát vào tháng 12/2014 tại Disney là do hàng triệu phụ huynh Mỹ đã không chọn tiêm vaccine cho con của họ trước các bệnh có thể phòng ngừa bằng vaccine. Nghiên cứu cũng đánh giá tác động của truyền thông trên nền tảng mạng xã hội (Facebook) lên tỷ lệ tiêm chủng: từ ba trang Facebook được xem xét (Trung tâm thông tin về chủng ngừa quốc gia, Gavi, Liên minh vaccine và vactruth.com) ghi nhận được 2830 nhận xét của người dùng từ tổng số 144 bài viết dé xác định nhóm ủng hộ hay chống tiêm chủng và xác định lý do ủng hộ hoặc chống tiêm chủng.