CHƯƠNG 1 Trong chương này, bài luận văn đã trình bày một cách tổng quát lý do chọn đề tài nghiên cứu, các vấn đề nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của bài luận văn, kết quả dự kiến và hạn chế, ý nghĩa nghiên cứu và kết cấu của bài luận văn. 7 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2. Tính thanh khoản của cổ phiếu Theo Trần Nguyễn Vân An (2017), tính thanh khoản là thuật ngữ dùng để chỉ khả năng có thể nhanh chóng mua hoặc bán hàng hóa trên thị trường mà không bị ảnh hưởng của yếu tố giá cả, khoảng thời gian để mua bán thường là ngắn hạn. Nói cách khác, tính thanh khoản thể hiện khả năng chuyển đổi thành tiền mặt dễ dàng của một tài sản để thuận lợi cho việc thanh toán hay chi tiêu.
Chứng khoán có tính thanh khoản tốt là những chứng khoán có sẵn thị trường cho việc bán lại dễ dàng, giá cả tương đối ổn định theo thời gian và khả năng cao để phục hồi nguồn vốn đã đầu tư ban đầu (Trần Nguyễn Vân An, 2017). Nhờ có thị trường chứng khoán, các nhà đầu tư có thể chuyển đổi chứng khoán họ sở hữu thành tiền mặt khi họ muốn và khả năng thanh khoản chính là một trong những đặc tính hấp dẫn của chứng khoán đối với các nhà đầu tư. Tính thanh khoản cho thấy sự linh hoạt và an toàn của vốn đầu tư, thị trường hoạt động càng năng động và có hiệu quả thì tính thanh khoản của chứng khoán giao dịch càng cao. Như vậy, tính thanh khoản của cổ phiếu là mức độ cổ phiếu có thể được mua hoặc bán tại cùng một mức giá.
Một cổ phiếu có tính thanh khoản cao có nghĩa là cổ phiếu đó có thể mua hoặc bán dễ dàng. Chính vì vậy, nhà đầu tư thường thích đầu tư vào cổ phiếu có tính thanh khoản cao hơn là đầu tư vào cổ phiếu có tính thanh khoản thấp vì họ có thể chuyển đổi cổ phiếu đang nắm giữ sang tiền mặt một cách dễ dàng. Tính thanh khoản cổ phiếu thường phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh của công ty và mối quan hệ cung cầu trên thị trường chứng khoán. Nếu một công ty kinh doanh hiệu quả, chính sách cổ tức hấp dẫn, công ty này có nhiều khả năng thu hút nhà đầu tư hơn, qua đó cổ phiếu của công ty cũng có thể dễ dàng mua bán trên thị trường.
Ngược lại, nếu công ty kinh doanh kém hiệu quả, tỷ lệ chi trả cổ tức thấp thì cổ phiếu sẽ không còn hấp dẫn, giá giảm và dẫn đến nhiều khó khăn trong việc mua bán. Bên cạnh đó, thị trường cổ phiếu cũng chịu sự chi phối của quy luật cung cầu giống như tất cả mọi thị trường hàng hóa khác. Giá cổ phiếu của công 8 ty còn phụ thuộc rất nhiều vào nhu cầu nhà đầu tư. Ví dụ như một cổ phiếu có chất lượng tốt nhưng thị trường đang trong tình trạng dư thừa nguồn cung thì cổ phiếu đó cũng khó có thể tăng giá.
Ngược lại, khi thị trường khan hiếm nguồn cung thì ngay cả những cổ phiếu kém chất lượng cũng có thể bán ra và tăng giá dễ dàng. Chính sách cổ tức Chính sách cổ tức là một trong ba chính sách tài chính quan trọng của công ty. Kết hợp cả quyết định đầu tư và quyết định tài trợ chính là quyết định về chính sách chi trả cổ tức. Chính sách cổ tức là chính sách ấn định phân phối giữa lợi nhuận giữ lại tái đầu tư và chi trả cổ tức cho cổ đông (Phạm Thị Thanh Xuân, 2007).
Lợi nhuận giữ lại sẽ được tái đầu tư và cung cấp cho các nhà đầu tư một nguồn tăng trưởng lợi nhuận trong tương lai, còn cổ tức đã chi cung cấp cho họ một nguồn thu nhập hiện tại. Tóm lại, chính sách cổ tức ấn định mức lợi nhuận sau thuế của công ty sẽ được phân phối như thế nào, bao nhiêu phần trăm giữ lại để tái đầu tư và bao nhiêu phần trăm dùng để chi trả cổ tức cho các cổ đông. Nghiên cứu thực nghiệm đầu tiên về chính sách cổ tức được tiến hành bởi Lintner (1956). Nghiên cứu này tiến hành điều tra những nhà quản lý của các doanh nghiệp để tìm hiểu cách mà họ đề ra chính sách cổ tức cho công ty của mình.
Lintner nhận thấy rằng, có thể xem tỷ lệ chi trả cổ tức là một chuẩn mực được thiết lập để quản lý công ty. Những nhà quản lý thường không có khuynh hướng muốn giảm cổ tức. Lintner cho rằng, các nhà quản lý đã có sẵn những mục tiêu hợp lý và rõ ràng đối với tỷ lệ chi trả cổ tức của công ty mình, họ sẽ tìm cách để cổ tức tăng chậm qua từng năm ở một tốc độ nhất định, và tiến càng lúc càng sát hơn với tỉ lệ chi trả cổ tức mục tiêu. Bond và Mougoue (1991) đã thực hiện lại mô hình điều chỉnh từng phần tỷ lệ chi trả cổ tức được đề xuất bởi Lintner.
Họ thấy rằng khi lợi nhuận tuân theo mô hình hồi quy tuyến tính sẽ xuất hiện nhiều sự kết hợp giữa tỷ lệ chi trả cổ tức và tốc độ điều chỉnh và cho ra cùng một khoản lợi nhuận và cổ tức. Họ kết luận rằng, đối với công ty có lợi nhuận tự tương quan, mô hình điều chỉnh từng phần của Lintner 9 không cho ra một nghiệm duy nhất. Do đó, mô hình này đối với doanh nghiệp không phải là một cách ngắn gọn để giải thích chính sách cổ tức. Cơ sở lý thuyết Đã có rất nhiều nghiên cứu làm tiền đề, cơ sở lý thuyết giải thích cho mối quan hệ giữa chính sách cổ tức và biến động giá cổ phiếu.
Có hai trường phái lý thuyết đó là sự độc lập và không độc lập của chính sách cổ tức. Lý thuyết thuộc trường phái sự độc lập của chính sách cổ tức là lý thuyết chính sách cổ tức không tương thích. Lý thuyết này cho rằng chính sách cổ tức của công ty không tác động đến giá cổ phiếu và chi phí sử dụng vốn của công ty. Lý thuyết này dựa trên các giả định thị trường vốn là hoàn hảo, hành vi của nhà đầu tư là hợp lý và sự chắc chắn về nguồn lợi nhuận trong tương lai.
Các lý thuyết thuộc trường phái sự không độc lập của chính sách cổ tức là: lý thuyết chính sách cổ tức tiền mặt cao, lý thuyết tín hiệu, giả thuyết chi phí đại diện và dòng tiền tự do của chính sách cổ tức. Lý thuyết chính sách cổ tức không liên quan (Dividend Irrelevance Theory) Lý thuyết chính sách cổ tức không tương thích là lý thuyết cho rằng các nhà đầu tư không cần phải quan tâm đến chính sách cổ tức của công ty vì họ có quyền bán một phần danh mục cổ phiếu của họ ngay lập tức nếu họ muốn có tiền mặt. Lý thuyết này cho thấy rằng việc công bố chính sách cổ tức và thanh toán cổ tức của một công ty sẽ ít hoặc không ảnh hưởng đến giá cổ phiếu. Nếu giả thuyết này đúng, điều đó có nghĩa là cổ tức không làm tăng giá trị cổ phiếu của công ty.
Miller và Modigliani (1961) đã chứng minh rằng trong những điều kiện nhất định của thị trường vốn hoàn hảo, mọi chính sách cổ tức là như nhau, chính sách cổ tức không ảnh hưởng đến giá cổ phiếu cũng như không tác động tới giá trị doanh nghiệp bởi vì trong thị trường này các nhà đầu tư có thể ngay lập tức mua, bán hay chuyển đổi chứng khoán một cách dễ dàng mà không phải chịu bất cứ chi phí giao dịch trực tiếp hay gián tiếp nào. Miller và Modigliani lập luận rằng dòng tiền trong tương lai từ hoạt động đầu tư là yếu tố quyết định duy nhất đến giá trị doanh nghiệp. 10 Còn chính sách phân chia dòng thu nhập của doanh nghiệp thành cổ tức và lợi nhuận giữ lại như thế nào là không quan trọng. Miller và Modigliani dựa vào lập luận hiệu ứng khách hàng để bảo vệ cho kết luận của mình.
Nếu công ty thay đổi chính sách cổ tức thì có thể mất một số cổ đông vì họ lựa chọn đầu tư vào các công ty khác có cổ tức hấp dẫn hơn. Do đó, giá cổ phiếu sụt giảm tạm thời. Tuy nhiên sẽ có các nhà đầu tư khác thích chính sách cổ tức mới này vì họ cho rằng cổ phiếu của công ty bị bán dưới giá và sẽ mua thêm cổ phần. Theo giả định, các giao dịch này diễn ra tức khắc và không tốn phí, kết quả là giá trị cổ phần giữ nguyên không đổi.
Những lập luận của Miller và Modigliani chỉ phù hợp khi được dựa trên điều kiện của một thị trường vốn hoàn hảo với những giả định như sau: - Không có thuế: Theo giả định này, không có sự khác biệt về thuế đánh trên thu nhập từ cổ tức và thuế đánh trên lợi nhuận kiếm được do việc mua - bán chứng khoán. - Không có các chi phí giao dịch: Giả định này ngụ ý rằng các nhà đầu tư vào chứng khoán của doanh nghiệp không phải chi trả bất kỳ khoản phí nào cho việc giao dịch cổ phiếu. - Các thành phần tham gia thị trường tự do và bình đẳng, tiếp cận với thông tin như nhau (thông tin đối xứng và không tốn phí). - Không có xung đột lợi ích giữa người quản lý và chủ sở hữu (tức là không có mâu thuẫn đại diện).
- Tất cả các thành phần tham gia trên thị trường là người chấp nhận giá. Lý thuyết chính sách cổ tức không tương thích của Miller và Modigliani là nền tảng cho nhiều nghiên cứu tiếp theo về chính sách cổ tức. Theo nghiên cứu của Banerjee và cộng sự (2007), vấn đề liên quan đến chi phí giao dịch là một trong những giả định đáng chú ý của lập luận trên đã đặt nền tảng cho nghiên cứu về mối quan hệ giữa tính thanh khoản của chứng khoán và chính sách chi trả cổ tức. Trong thị trường không có chi phí giao dịch, các nhà đầu tư với nhu cầu thanh khoản của mình sẽ tự tạo ra cổ tức bằng cách bán một phần cổ phiếu 11 thích hợp đang nắm giữ, kết quả là sẽ không có sự khác biệt giữa việc nhà đầu tư nhận được cổ tức bằng tiền mặt và việc bán một phần cổ phiếu của mình.
Còn trong thực tế, thị trường vốn luôn có chi phí giao dịch, các cổ phiếu chi trả cổ tức bằng tiền mặt cho phép các nhà đầu tư thỏa mãn nhu cầu thanh khoản của mình mà không cần phải bán cổ phiếu, từ đó tránh được chi phí giao dịch.