Chương 1: Giới thiệu. Chương 2: Các nghiên cứu về ảnh hưởng của việc nắm giữ tiền mặt đến giá trị công ty. Chương 3: Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Nội dung và kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận. 5 CHƯƠNG 2: CÁC NGHIÊN CỨU VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC NẮM GIỮ TIỀN MẶT ĐẾN GIÁ TRỊ CÔNG TY 2. Các lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến quan điểm tiền mặt tại doanh nghiệp 2. Các lý thuyết liên quan đến quyết định nắm giữ tiền mặt tại doanh nghiệp 2.
Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn sẽ được tác giả trình bày chi tiết hơn trong mục 2.1 các lý thuyết ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp trong chương này. Ở đây tác giả chỉ đề cập ảnh hưởng của lý thuyết này đến quan điểm tiền mặt của doanh nghiệp. Vì lý thuyết này ưu tiên sử dụng nợ để hưởng lợi ích từ tấm chắn thuế có sự cân nhắc giữa nguồn lợi ích từ tấm chắn thuế và chi phí kiệt quệ tài chính để công ty đạt giá trị tối đa. Những nhà quản lý có quan điểm này sẽ có khuynh hướng ít nắm giữ tiền mặt.
Lý thuyết trật tự phân hạng Ngược với lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn, lý thuyết trật tự phân hạng cho rằng doanh nghiệp nên sử dụng nguồn tài trợ nội bộ, sau đó mới vay nợ và cuối cùng là phát hành cổ phiếu - lý thuyết này sẽ được chi tiết hơn trong mục 2.1 các lý thuyết ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp trong chương này. Như vậy đối với lý thuyết này thì doanh nghiệp ưu tiên sử dụng nguồn có sẵn, lượng tiền mặt tích trữ của doanh nghiệp dùng để tài trợ cho các dự án đầu tư và nhu cầu hoạt động hằng ngày của doanh nghiệp. Nếu cùng quan điểm với lý thuyết này, các cổ đông có khuynh hướng đánh giá cao lượng tiền mặt mà doanh nghiệp nắm giữ. Lý thuyết dòng tiền tự do Dòng tiền tự do là dòng tiền dư ra sau khi tài trợ cho tất cả các dự án đầu tư đem lại hiệu quả cho công ty.
Theo Jensen (1986), các nhà quản lý không muốn chi trả cổ tức, họ muốn giữ lại số tiền này để tài trợ cho các dự án đầu tư họ quan tâm mà không cần phải có trách nhiệm giải trình, kêu gọi và cung cấp các thông tin chi tiết cho thị trường để nhận được nguồn tài trợ bên ngoài khi có dự án mới. Nếu nắm giữ nhiều tiền mặt không cần thiết cho hoạt động kinh doanh của mình, họ có trách nhiệm giải trình cho các cổ đông và vẽ ra các kế hoạch chi tiêu trong tương lai. Điều này có thể dẫn đến việc đầu tư tùy tiện, không hiệu quả làm giảm giá trị của công ty hoặc có khi là nhằm phục vụ lợi ích bản thân hơn là cho doanh nghiệp. Do đó, mục tiêu của lý thuyết này nhằm đề cập đến sự khác nhau về lợi ích của cổ đông và nhà quản lý và việc chi trả cổ tức sẽ làm giảm chi phí đại diện.
Chi trả cổ tức sẽ làm giảm dòng tiền tự do, tránh cho nhà quản lý có cơ hội theo đuổi mục tiêu tư lợi riêng của mình. Hơn nữa, khi công ty có dự án mới, họ phải tham gia vào thị trường vốn, chịu sự giám sát và giải trình gắt gao của các nhà đầu tư. Ngoài ra, họ phải chịu sức ép trong việc tính toán, điều hành hợp lý để đáp ứng các nghĩa vụ ngắn hạn của công ty. Điều này góp phần vào việc giảm chi phí đại diện và thông tin bất cân xứng giữa nhà quản lý và nhà đầu tư.
Lý thuyết này không hoan nghênh việc nắm giữ tiền mặt nếu chưa có cơ hội đầu tư mới, thay vào đó là nên chia cổ tức cho các cổ đông để giảm thiểu chi phí đại diện. Lý thuyết đánh đổi của việc nắm giữ tiền mặt Lý thuyết này bắt nguồn từ nghiên cứu của Myers (1977). Với lý thuyết này, tác giả cho rằng doanh nghiệp nên cân nhắc giữa chi phí và lợi ích của việc nắm giữ tiền mặt. Đối với những doanh nghiệp tăng trưởng, có nhiều cơ hội đầu tư thì việc tích lũy nhiều tiền mặt sẽ hạn chế vay mượn từ nguồn tài trợ bên ngoài, giảm chi phí 7 giao dịch, đáp ứng kịp thời các cơ hội đầu tư.
Nếu không đủ tiền mặt có thể doanh nghiệp sẽ không tận dụng các thời cơ tốt đem lại hiệu quả cao. Hơn nữa, việc huy động vốn ngoài việc phải tốn các chi phí phát sinh, quá trình huy động có thể chậm do phải giải trình, kêu gọi đầu tư. Hậu quả của việc chậm trễ trong thời gian huy động vốn, các dự án đó có thể đến tay người khác. Nhưng nếu doanh nghiệp giữ nhiều tiền mặt trong khi chưa có cơ hội đầu tư nào hiệu quả thỏa đáng thì sẽ phải đối mặt với chi phí cơ hội và chi phí đại diện.
Nghiên cứu thực nghiệm các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu tiền mặt của doanh nghiệp Trong nghiên của Keyness (1936) về việc làm, lãi suất và tiền tệ, ông đưa ra ba nguyên nhân chính khiến các nhà quản lý giữ tiền. - Thứ nhất là là nhu cầu giao dịch: Tiền cần cho nhu cầu giao dịch hằng ngày đối với cá nhân và doanh nghiệp. - Thứ hai là động cơ dự phòng: Hộ gia đình cá nhân và doanh nghiệp muốn giữ tiền mặt để thanh toán các trường hợp phát sinh bất thường mà hiện tại họ chưa lường trước được. - Thứ ba là mục tiêu đầu cơ: Các nhà kinh tế dự đoán lãi suất sẽ cao trong tương lai, lúc đó họ đầu cơ tiền mặt để đến lúc thích hợp sẽ tung tiền ra và đem nhiều lợi nhuận về cho họ.
Nghiên cứu của Miller và Orr (1966) về mức tiền mặt tối ưu thông qua việc xác định lợi ích và chi phí của việc nắm giữ tiền măt. Trên cơ sở phân tích cái được cái mất khi nắm giữ tiền mặt, doanh nghiệp có thể xác định nhu cầu tiền mặt phù hợp cho mình. Lợi ích của việc nắm giữ tiền mặt: - Luôn trong tình trạng sẵn sàng thanh toán các nhu cầu cần thiết hàng ngày kể cả đối mặt với các trường hợp không mong đợi, sự bất ổn của dòng tiền dẫn đến chi phí kiệt quệ tài chính. - Thực hiện các dự án đầu tư đem lại hiệu quả cho doanh nghiệp mà không phải tốn thời gian hoặc khó tiếp cận với thị trường vốn.
Hơn nữa khi tham 8 gia vào thị trường vốn, doanh nghiệp sẽ phải tốn chi phí giao dịch do bị ảnh hưởng vấn đề thông tin bất cân xứng. Song song với những lợi ích có được từ tiền mặt, ông cũng đưa ra các bất lợi của nó. - Chi phí cơ hội: Lãi suất có được từ tiền mặt không đáng kể so với việc đem số tiền đó đi đầu tư vào các dự án có khả năng sinh lời. Đây chính là cơ hội phí của việc nắm giữ tiền mặt.
- Chi phí đại diện: Các nhà quản lý lúc nào cũng mong muốn có sẵn tiền mặt để khi cần thì đem ra sử dụng. Điều này giúp họ giảm áp lực điều hành doanh nghiêp tức là không phải mất thời gian tính toán để đáp ứng các nghĩa vụ ngắn hạn. Hơn nữa, với lượng tiền mặt đó họ có thể vạch ra những dự án đầu tư kém hiệu quả, các vụ sát nhập không cần thiết nhằm đạt được lợi ích cá nhân. Trong bài nghiên cứu của Bates và cộng sự (2009), ông cũng giới thiệu ngắn gọn bốn lý do khiến các doanh nghiệp có nhu cầu tích lũy tiền mặt như sau: Động cơ giao dịch Những mô hình tài chính cổ điển (như trong nghiên cứu của Baumol (1952), Miller và Orr (1966)) đã thiết lập những yêu cầu tối ưu cho việc nắm giữ tiền mặt khi doanh nghiệp phải gánh chịu chi phí giao dịch trong việc chuyển đổi những tài sản không phải là tiền mặt thành tiền mặt và sử dụng tiền mặt cho nhu cầu thanh toán.
Doanh nghiệp cần tiền để điều tiết các hoạt động hằng ngày của doanh nghiệp. Kể từ khi có lợi thế kinh tế theo quy mô, những công ty lớn giữ tiền mặt ít hơn trước. Theo Mulligan (1997), tiền mặt của công ty phụ thuộc vào yêu cầu hoạt động, sự phức tạp về công nghệ và các chi phí cơ hội. Động cơ phòng ngừa Các doanh nghiệp nắm giữ tiền mặt vì khi tham gia vào thị trường vốn sẽ rất tốn kém.
Nghiên cứu của Opler và cộng sự (1999) cho thấy rằng những doanh nghiệp có dòng tiền bất ổn và khó tiếp cận thị trường vốn thì dự trữ nhiều tiền mặt hơn. Những công ty có cơ hội đầu tư tốt hơn thì nắm giữ tiền mặt nhiều hơn bởi vì họ 9 quan ngại sẽ phải tốn chi phí hơn khi gặp phải những khủng hoảng tài chính và các cú sốc gây bất lợi cho doanh nghiệp của họ. Theo Custodio và cộng sự (2005), dự trữ tiền mặt tăng lên trong thời kỳ suy thoái, đặc biệt là những doanh nghiệp hạn chế về mặt tài chính. Mục tiêu kinh doanh là một trong những yếu tố chính dẫn đến quyết định nắm giữ lượng tiền mặt của những doanh nghiệp này.
Bài nghiên cứu còn đi đến kết luận rằng các doanh nghiệp tăng mức thanh khoản trong suốt thời kỳ thắt chặt tín dụng. Động cơ đóng thuế thu nhập Trong nghiên cứu của Foley, Hartzell, Titman, and Twite (2007), các công ty đa quốc gia ở Mỹ giữ lại tiền mặt ở các chi nhánh của họ đặt ở nước ngoài do bị đánh thuế thu nhập cao nếu chuyển lợi nhuận của họ về nước. Động cơ đại diện Trong nghiên cứu của Jensen (1986), những nhà quản lý được trao nhiều quyền lực hơn mức cần thiết thì thích nắm giữ tiền mặt hơn là chi trả cổ tức cho các cổ đông trong khi hiện tại doanh nghiệp không có cơ hội đầu tư hiệu quả nào. Nghiên cứu của Dittmar, Mahrt-Smith, and Servaes (2003) cho thấy các vấn đề đại diện là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến việc nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp.
Với mẫu nghiên cứu là 11.000 doanh nghiệp thuộc 45 quốc gia cho thấy ở những nước mà quyền lợi của các cổ đông không được bảo vệ tốt thì doanh nghiệp nắm giữ tiền mặt gấp đôi so với các nước bảo vệ quyền lợi cổ đông tốt hơn. Khi quyền lợi của các cổ đông chưa được bảo vệ tốt, họ không thể buộc các nhà quản lý chi trả cổ tức số tiền mặt dư thừa trong doanh nghiệp.