CHƯƠNG 1 Chương đầu tiên của nghiên cứu đã trình bày được lý do chọn đề tài Tác động của thuế đến vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Sau đó đưa ra lần lượt mục tiêu tổng quát và các mục tiêu cụ thể cần thực hiện. Trong chương này cũng nêu rõ về thời gian được chọn để nghiên cứu là giai đoạn 2005-2021 của 23 quốc gia đang phát triển trên thế giới. Nghiên cứu sẽ sử dụng phương pháp định lượng để tiến hành nghiên cứu.
Và cuối cùng, chương này đã nêu về những đóng góp của bài cũng như tóm tắt các chương của bài để có thể nắm tổng quan nội dung. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan về thuế 2. Khái niệm thuế Trong quá trình phát triển của xã hội loài người, sự ra đời và phát triển của thuế không chỉ là một nhân tố tất yếu mà còn là một yếu tố không thể thiếu để duy trì và phát triển của Nhà nước.
Mỗi giai đoạn lịch sử, từ thời kỳ cổ đại đến hiện đại, đều chứng kiến sự hiện diện và quan trọng của thuế trong việc duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội. Một trong những điểm chung của các mô hình nhà nước từ trước đến nay là cần phải có nguồn tài chính đủ để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. Thuế đã trở thành một phương thức phổ biến để tạo ra nguồn tài chính này để duy trì các dịch vụ công cần thiết, như hạ tầng, giáo dục, y tế, an ninh và quốc phòng. Thuế không chỉ là cách để Nhà nước tạo nguồn tài chính mà còn là một công cụ quan trọng để tạo ra sự công bằng xã hội và phân phối lại tài nguyên trong xã hội một cách công bằng hơn.
Khái niệm về thuế của nhà kinh tế học Gaston Jeze (1934) đưa ra định đã mô tả thuế như một khoản đóng góp bằng tiền có tính chất xác định, tuy nhiên sẽ không hoàn trả trực tiếp cho công dân đóng góp cho nhà nước, mà sẽ thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp các khoản chi tiêu của nhà nước. Sau một khoản thời gian Gaston Jeze bổ sung thêm cho lý thuyết thêm rằng khoản thuế đó sẽ đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước nhằm phục vụ cho các khoản chi cho kinh tế - xã hội của nhà nước. Và theo nhiều góc độ thuế cũng được định nghĩa theo các cách khác nhau. Theo góc độ kinh tế học, thuế được hiểu là một biện pháp đặc biệt, theo đó nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công, nhằm thực hiện các chức năng kinh tế xã hội của nhà nước.
Bên cạnh đó với khía cạnh phân phối lại thu nhập, thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội cũng như thu nhập quốc dân nhằm hình thành các quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước. Cuối cùng xem xét thuế trên góc độ của người nộp thuế thì 9 được coi là một khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho nhà nước theo quy định nhà nước để đáp ứng cho các nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Ngoài ra mọi người còn xem xét định nghĩa của thuế theo các học thuyết khác nhau. Theo học thuyết khế ước thuyết là kết quả của một khế ước mặc định giữa nhà nước và dân chúng.
Còn theo học thuyết quyền lực, thuế là sự thể hiện bổn phận, nghĩa vụ của dân chúng đối với Nhà nước. Và theo các quan điểm hiện đại thuế là khảo đóng góp mang tính bắt buộc của dân chúng cho nhà nước đảm bảo các nhu cầu của nhà nước, phục vụ cho các lợi ích chung của xã hội. Riêng ở Việt Nam thuế được định nghĩa ở Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 là một khoản nộp ngân sách nhà nước bắt buộc của tổ chức, hộ gia đình, hộ kinh doanh, cá nhân theo quy định của các luật thuế. Nguyên tắc xây dựng hệ thống thuế hiệu quả Mười hai nguyên tắc về thuế của Hiệp hội Kế toán Công chứng Anh quốc (ACCA), được giới thiệu lần đầu trong một báo cáo vào năm 2009.
Tuy nhiên trong bối cảnh thế giới đang có những thay đổi, hệ thống thuế cũng phải thích ứng với tình hình hiện nay. Ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 các quốc gia đối mặt với hậu quả của đại dịch và đang cố gắng giải quyết các vấn đề về kinh tế nói riêng. Điều này làm tình hình kinh tế đang thay đổi một cách nhanh chóng. Vì vậy vào ngày 24 tháng 03 năm 2023 ACCA đã công bố lại 12 nguyên tắc về thuế để đáp ứng được sự thay đổi hiện nay.
12 Nguyên tắc về thuế của ACCA bao gồm: Tính đơn giản: Luật thuế và việc quản lý thuế phải đơn giản dễ hiểu. Và số lượng văn bản cần được đảm bảo ở số lượng ít nhất có thể. Vì nếu số lượng văn bản quá nhiều và nội dung phức tạp sẽ dễ tạo sự khó khăn cho người thực hiện. Tính chắc chắn: Đây là yếu tố trong hệ thống thuế ở các nước thường xuyên gặp phải.
Sự thiếu chắc chắn về tính đúng sai của một văn bản thuế dễ tạo cơ hội cho 10 vấn nạn tham nhũng ở một nước. Và sự chắc chắn của thuế nhằm trao cơ hội để cơ quan nhà nước có quyền. Vì sự chắc chắn của thuế sẽ thúc đẩy tính hiệu quả. Tính công khai và minh bạch: Trong quá trình xây dựng hệ thống thuế cần thu thập các ý kiến cụ thể và đa dạng từ cộng đồng, doanh nghiệp và các bên liên quan khác.
Việc áp dụng chính sách thuế cũng cần phải được thực hiện một cách công khai tránh các hành động gian lận. Và người nộp thuế cần hiểu mình đang nộp thuế gì, lý do cần nộp thuế và lợi ích nhận được. Tính hiệu quả: Hệ thống thuế phải được thiết kế hiệu quả tránh tình trạng không minh bạch về thuế. Ngoài ra phải giảm sự phức tạp về hành chính cho người nộp thuế.
Đồng thời cơ quan thuế cần áp dụng những công nghệ tiến bộ vào quá trình thực hiện để đẩy mạnh sự hiệu quả. Tính công bằng: Nguyên tắc quan trọng khác của luật thuế là đảm bảo đối với thu nhập chỉ phải chịu thuế một lần. Cần đối xử bình đẳng giữa những người nộp thuế có khả năng như nhau. Tính công lý: Người nộp thuế không chỉ có quyền lợi mà còn có trách nhiệm đối với phần thuế họ nộp.
Trách nhiệm của họ phải tuân thủ nghĩa vụ nộp thuế đầy đủ và đúng hạn. Bên cạnh đó họ cũng có các quyền lợi tương xứng của riêng mình. Và các cơ quan quản lý thuế cần chịu trách nhiệm về việc thực hiện đầy đủ trách nhiệm và nghĩa vụ của mình. Tính trung lập: Chính sách thuế phải không mang tính phân biệt đối xử với các đối tượng.
Trừ các trường hợp đối tượng sẽ chịu quy định thuế suất khác do các các mục đích khác nhau do pháp luật quy định. Ví dụ như loại hàng bị ngăn cấm sẽ chịu mức thuế cao hơn các sản phẩm khác. Tính chuyển dịch thuế: Sự chuyển dịch hiện tại đang được hướng tới là thuế xanh nhằm hạn chế sử dụng những chất có hại môi trường. Tính ổn định: Chính sách thuế cần được ổn định lâu dài.
Nếu thay đổi thường xuyên và liên tục các phương pháp tính hay quy định của chính sách thuế sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực đến kế hoạch trung và dài hạn của doanh nghiệp, điều đó dễ gây tác động đến nguồn thu ngân sách nhà nước. 11 Quyền đánh thuế là chủ quyền quốc gia: Nguồn thu từ thuế chiếm tỷ trọng lớn trong nguồn thu ngân sách nhà nước, vì vậy thuế được xem là là yếu tố quan trọng của một quốc gia. Do vậy nhà nước cần tự quyết định về việc đặt ra chính sách thuế cho chính quốc gia mình nhưng vẫn đảm bảo tuân theo khuôn khổ quốc tế và cần chống lại cuộc đua giảm thuế suất. Tính tuân thủ pháp luật: Người nộp thuế có nghĩa vụ đạo đức phải nộp các khoản thuế theo quy định của pháp luật.
Trách nhiệm giải trình và rà soát thường xuyên: Hệ thống quy định thuế cần phải rà soát thường xuyên. Luật thuế được sửa đổi và tổng hợp định kỳ để cập nhật và dễ tuân thủ hơn. Những luật lỗi thời cần được loại bỏ. Tổng quan về FDI 2.
Khái niệm FDI Theo Theo Tổ chức thương mại quốc tế - WTO (1996) trong một thông cáo báo chí đã cho rằng Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi nhà đầu tư tại nước này mua tài sản ở nước khác với mục tiêu là quản lý. Và hầu hết các trường hợp, nhà đầu tư và tài sản họ mua đề là các công ty kinh doanh. Sau đó sẽ phân ra công ty của nhà đầu tư sẽ là công ty mẹ, công ty là tài sản họ mua sẽ là công ty con hoặc công ty liên kết. Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế - OECD (2014) định nghĩa đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là một loại hình đầu tư xuyên quốc gia trong đó một nhà đầu tư cư trú tại một quốc gia sở hữu một khoản đầu tư và tạo nên mức độ ảnh hưởng đáng kể đối với một doanh nghiệp cư trú ở nền kinh tế khác.
Cụ thể là nhà đầu tư đó sở hữu 10% quyền biểu quyết trở lên trong một doanh nghiệp ở quốc gia khác. FDI là yếu tố then chốt trong hội nhập kinh tế quốc tế vì nó tạo ra sự liên kết ổn định và lâu dài giữa các nền kinh tế. FDI là đầu mối quan trọng để chuyển giao công nghệ giữa các quốc gia, thúc đẩy thương mại quốc tế thông qua tiếp cận thị trường nước ngoài và có thể là phương tiện quan trọng để phát triển kinh tế. Theo hội nghị Liên Hợp Quốc về Thương mại và Phát triển - UNCTAD (2022) định nghĩa FDI là khoản đầu tư phản ánh quyền lợi và sự kiểm soát lâu dài của một 12 nhà đầu tư nước này hay cư trú tại một nền kinh tế này vào một doanh nghiệp ở nước khác hay nền kinh tế khác (chi nhánh khác).