Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn thị xã Đồng Xoài tỉnh Bình Phước – Đưa ra bức tranh chung về nghiên cứu và tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như một số vấn đề về tài chính của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn. Chương 2: Cơ sở lý thuyết – Các lý thuyết cơ sở về vấn đề nghiên cứucùng với các nghiên cứu thực nghiệm trong lĩnh vực này. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu – Mô tả mô hình nghiên cứu, giải thích cụ thể các biến số trong mô hình, dữ liệu nghiên cứu. Chương 4: Phân tích dữ liệu và kết quả - Nêu các kết quả phân tích thống kê mô tả, phân tích tương quan hồi quy giữa các chỉ tiêu nghiên cứu (biến số), đồng thời đưa ra kết luận kiểm định các giả thuyết nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị – Các kết luận được đưa ra sau khi phân tích, cùng những khuyến nghị đối với các đối tượng nghiên cứu liên quan trên cơ sở kết luận đã đúc kết. Những hạn chế của nghiên cứu cũng được nêu rõ trong chương này.2 Giới thiệu chung về thị xã Đồng Xoài – tỉnh Bình Phước Đồng Xoài cách thành phố Hồ Chí Minh 110 km, cách đường biên giới Camphuchia 110 km. Đồng Xoài có các đường giao thông quan trọng là quốc lộ 15 14, đường liên tỉnh ĐT. 741 là những con đường huyết mạch nối liền Tây Nguyên với Thành phố Hồ Chí Minh và nước bạn Campuchia.
Ngoài ra, trên địa bàn thị xã còn có đường Lê Qúi Đôn (đường ĐT.753) đi ra tỉnh Đồng Nai. Trong tương lai sẽ có tuyến đường sắt từ tỉnh Đắc Nông đi qua Đồng Xoài đến cảng Thị Vải tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Đó là những lợi thế của Đồng Xoài để tăng cường quan hệ hợp tác đầu tư phát triển kinh tế-xã hội trong tương lai. Nhờ tận dụng tốt các điều kiện mang lại, tình hình kinh tế xã hội thị xã Đồng Xoài có nhiều thành quả đáng khích lệ.
Năm 2007 GDP là 834 tỷ đồng, đến năm 2012 toàn thị xã đạt mức GDP là 1.917 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 5 năm đạt gần 15%/năm, tương đối cao so với tốc độ tăng GDP của Việt Nam trong cùng thời kỳ. Thu nhập bình quân đầu người từ chỗ chỉ ở mức 11,8 triệu đồng/người năm 2007 đã tăng mạnh lên mức 35,8 triệu đồng/người năm 2012, đạt mức tăng trưởng bình quân trong 5 năm là 20,32%, cao hơn so với tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam trong cùng giai đoạn (tăng trưởng 16,18% từ mức 14,8 triệu đồng/người lên mức 36,4 triệu đồng/người).3 Giới thiệu tổng quan về DNVVN trên địa bàn thị xã Đồng Xoài Sau khi các luật được ban hành và sửa đổi như: Luật Doanh nghiệp Nhà nước, Luật Đầu tư trực tiếp của nước ngoài, Luật Hợp tác xã và đặc biệt là Luật Doanh nghiệp đã tạo ra môi trường thông thoáng, hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn thị xã Đồng Xoài có nhiều khởi sắc và sôi động hơn góp phần giải quyết việc làm cho người lao động; hiệu quả sản xuất kinh doanh phát triển khá; vai trò của doanh nghiệp nói chung, DNVVN nói riêng ngày càng được khẳng định và có những đóng góp quan trọng trong nền kinh tế tỉnh nhà. Theo báo cáo thường niên của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bình Phước, trong thời gian từ năm 2009 đến năm 2012, cùng với tình hình kinh tế sáng sủa của cả nước và thế giới, số doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn thị xã Đồng Xoài tăng nhanh từ 711 doanh nghiệp năm 2009 lên đến 1. Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, tính đến 31/12/2013 số DNVVN thực tế đang hoạt động trong các ngành kinh tế quốc dân là 1.084 doanh nghiệp (chiếm 29,6% tổng số doanh nghiệp toàn tỉnh), giảm 8% so với năm 2012 (1.165 doanh nghiệp), trong đó: -Doanh nghiệp Nhà nước có 32 doanh nghiệp.
-Doanh nghiệp ngoài quốc doanh có 1. - Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có 10 doanh nghiệp. Trong các ngành kinh tế, ngành thương mại và dịch vụ có 585 doanh nghiệp, tăng bình quân 29,62%/năm (năm 2009 có395 doanh nghiệp). Ngành công nghiệp xây dựng có 338 doanh nghiệp, tăng bình quân 30,45%/năm (5 năm tăng 116 doanh nghiệp).
Ngành công nghiệp chế biến có 100 doanh nghiệp, tăng 32,26%/năm (năm 2009 có 62 doanh nghiệp). Ngành nông nghiệp có 61 doanh nghiệp, tăng bình quân 38,1%/năm (5 năm tăng 29 doanh nghiệp). DNVVN chiếm trong tổng số doanh nghiệp của các ngành kinh tế của địa phương như sau: ngành thương mại và dịch vụ chiếm 98,8%; ngành công nghiệp xây dựng chiếm 80,8%; ngành công nghiệp chế biến chiếm 97,6%; ngành nông nghiệp chiếm 100%. Có thể nói DNVVN chiếm đa số trong các ngành dịch vụ, chế biến và nông nghiệp.1: Tình hình DNVVN chia theo khu vực kinh tế Số DNVVN đang hoạt động 2009 2010 2011 2012 2013 TỔNG SỐ 711 923 1101 1165 1084 A-Chia theo khu vực kinh tế 1.
Khu vực DN Nhà nước 59 44 39 38 32 2. Khu vực DN ngoài quốc doanh 649 873 1055 1118 1042 - Doanh nghiệp tư nhân 178 201 201 185 134 -Công ty TNHH một thành viên 154 253 384 453 469 -Công ty TNHH 2 thành viên trở lên 255 346 389 393 347 -Công ty Cổ phần 62 73 81 87 92 3. Khu vực có vốn ĐT nước ngoài 3 6 7 9 10 Cụ thể về số DNVVN đang hoạt động của các năm gần đây như sau: Bảng 1.2: Tình hình DNVVN chia theo ngành KTQD Số DNVVN đang hoạt động 2009 2010 2011 2012 2013 B-Chia theo ngành KTQD 1. Doanh nghiệp TM&DV 395 502 603 622 585 2.
Doanh nghiệp Công nghiệp XD 222 287 320 352 338 3. Doanh nghiệp Công nghiệp chế biến 62 88 106 113 100 4. Doanh nghiệp Nông nghiệp 32 46 72 78 61 Cùng với số lượng doanh nghiệp tăng nhanh, các yếu tố sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như: Lao động, nguồn vốn, tài sản và kết quả SXKD như: Doanh thu, lợi nhuận, nộp ngân sách cũng tăng lên. 18 Ngành nghề chủ yếu là: Sản xuất chế biến nông sản với nguồn nguyên liệu chủ yếu là cao su, điều, cà phê, trái cây,… Sản xuất công nghiệp chế biến thực phẩm, sản xuất phân phối điện, nước, sản xuất sản phẩm điện tử.
Sản xuất lâm sản. Xây dựng dân dụng, công nghiệp. Dịch vụ du lịch. Vị thế cạnh tranh Đa phần các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, năng lực cạnh tranh hầu hết còn yếu kém: Do các doanh nghiệp đều là doanh nghiệp trẻ trong nền kinh tế thị trường mà cơ cấu kinh tế tại tỉnh Bình Phước nói chung và thị xã Đồng Xoài nói riêng đang trong quá trình xây đựng: năng lực tài chính thấp, kinh nghiệm kinh doanh chưa nhiều,.
Chất lượng và khả năng cạnh tranh về mặt quản lý còn yếu kém: Đội ngũ chủ doanh nghiệp (DN), giám đốc và cán bộ quản lý DN còn nhiều hạn chế về kiến thức và kỹ năng quản lý. Số lượng doanh nghiệp có chủ doanh nghiệp, giám đốc giỏi, trình độ chuyên môn cao và năng lực quản lý tốt chưa nhiều. Một bộ phận lớn chủ DN và giám đốc DN tư nhân chưa được đào tạo bài bản về kinh doanh và quản lý, còn thiếu kiến thức kinh tế - xã hội và kỹ năng quản trị kinh doanh, đặc biệt là yếu về năng lực kinh doanh quốc tế. Từ đó, khuynh hướng phổ biến là các DN hoạt động quản lý theo kinh nghiệm, thiếu tầm nhìn chiến lược, thiếu kiến thức trên các phương diện: Quản lý tổ chức, chiến lược cạnh tranh, phát triển thương hiệu, sử dụng máy tính và công nghệ thông tin.
Một số chủ doanh nghiệp mở công 19 ty chỉ vì có sẵn tiền vốn và thích kinh doanh, trong khi đó thiếu kiến thức và kỹ năng về kinh doanh, vì vậy đã dẫn đến rủi ro và thất bại. Năng suất lao động thấp, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm cao làm yếu khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp. Năng lực cạnh tranh về tài chính vẫn còn rất yếu kém. Quy mô vốn và năng lực tài chính (kể cả vốn của chủ sở hữu và tổng nguồn vốn) của nhiều DN còn rất nhỏ bé, vừa kém hiệu quả, vừa thiếu tính bền vững.
Về lao động của các DNVVN Tổng số lao động hiện đang làm việc trong các DNVVN tại thời điểm 31/12/2013 là 38.979 người (chiếm 44,2% lao động doanh nghiệp của địa phương), gấp gần 2,2 lần năm 2009, tăng bình quân 16,7%/năm kể từ năm 2009 (5 năm tăng 20. Trong đó: - Doanh nghiệp Nhà nước là 3.964 người, chiếm 10,2%, giảm bình quân 9,8%/năm (5 năm giảm 2.665 người) - Doanh nghiệp ngoài quốc doanh là 34.468 người, chiếm 88,4%, tăng bình quân 25%/năm (5 năm tăng gần 23. - Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là 547 người, chiếm 1,4%, tăng bình quân 44,8%/năm (5 năm tăng gần 461 người), trong đó khu vực 100% vốn nước ngoài tăng bình quân 45,8%/năm (5 năm tăng 67 người). Sử dụng nhiều lao động và tăng nhanh nhất hiện nay là ngành xây dựng 13.034 người, chiếm 33,4% tổng số lao động khu vực doanh nghiệp, gấp gần 2,1 lần năm 2000 (bình quân 5 năm tăng 16,3%/năm); tiếp đến là ngành công nghiệp chế biến với 12.998 người, chiếm 33,3% tổng số lao động của khu vực doanh nghiệp, gấp gần 2,7 lần năm 2000 (bình quân 5 năm tăng 21,8%/năm); Bình quân số lao động một DNVVN từ 43 người/doanh nghiệp năm 2009 giảm xuống còn 32 người/doanh nghiệp năm 2013.
Do số doanh nghiệp mới 20 thành lập đa số là doanh nghiệp nhỏ và rất nhỏ, mà chủ yếu là của các ngành dịch vụ, số doanh nghiệp có dưới 30 lao động năm 2009 chiếm 63% đến năm 2013 chiếm 74,5%. Về nguồn vốn sản xuất kinh doanh của DNVVN. Những năm gần đây, với các chủ trương, chính sách khuyến khích phát triển các DNVVN của Nhà nước nói chung và của tỉnh nói riêng, đã có tác động tích cực đến việc huy động mọi nguồn vốn của các tầng lớp dân cư vào sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Tổng nguồn vốn của DNVVN tại thời điểm 31/12/2013 là 6.242,4 tỷ đồng (chiếm 57,9% tổng nguồn vốn của doanh nghiệp toàn thị xã), gấp 2,8 lần cùng thời điểm năm 2009; trong đó DNVVN Nhà nước chiếm 27,2% tổng nguồn vốn DNVVN (1.697,7 tỷ đồng), gấp 1,3 lần cùng thời điểm năm 2009, bình quân vốn 1 DNVVN Nhà nước là 53 tỷ đồng; DNVVN ngoài quốc doanh chiếm 67,1% (4.188,7 tỷ đồng), gấp 5,9 lần cùng thời điểm năm 2009, bình quân nguồn vốn 1 DNVVN ngoài quốc doanh 3,6 tỷ đồng.