CHƯƠNG 1: CO SỞ LÝ THUYET VE NỢ NƯỚC NGOÀI VÀ TANG TRUONG KINH TE. Cơ sở lý thuyết về nợ nước ngoài. Khái nhiệm nợ nước ngoài. Nợ nước ngoài là một khái niệm cần làm rõ để quản lý một cách hiệu quả vì với cách hiểu khác nhau sẽ cho số liệu khác nhau dẫn đến đánh giá và giải quyết van đề nợ khác nhau.
Theo Qty tién té quốc tế (IMF) (2013) định nghĩa: “Tổng nợ nước ngoài, tại bat ky thoi diém nao, 1a tong dư nợ của các nghĩa vụ nợ thực tế hiện thời chưa thanh toán, không bao gồm các nghĩa vụ nợ dự phòng, đòi hỏi bên nợ phải thanh toán nợ sốc và/hoặc lãi tại một (hoặc một vài) thời điểm trong tương lai, và đây là khoản nợ do đối tượng cư trú tại một nền kinh tế nợ đối tượng không cư trú”. Theo quan điểm này, đối tượng cư trú của một nước, theo định nghĩa của hệ thống Thống kê tài khoản quốc gia (SNA), là cá nhân, hộ gia đình, DN có kế hoạch thường trú lâu dài ở một nước và chịu sự kiểm soát của pháp luật nước đó. Thông thường, người cư trú từ 1 năm trở lên được coi là lâu dai, song độ dài thời gian này cũng con tùy thuộc vào từng quốc gia. Khái niệm này được sử dụng thống nhất giữa WB, IMF, OECD và BIS trong đánh giá mức độ nợ của quốc gia.
Ở Việt Nam, theo Luật quản lý nợ công năm 2009, nợ nước ngoài của quốc gia là tổng các khoản nợ nước ngoài của Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh, nợ của DN và tô chức khác được vay theo phương thức tự vay, tự trả theo quy định của pháp luật Việt Nam (Khoản Š Điều 3). Theo khái niệm này, nợ nước ngoài là tất cả các khoản vay mượn của tất cả các pháp nhân Việt Nam đối với nước ngoài và không bao gồm nợ của các thé nhân (nợ của cá nhân và hộ gia đình). Tuy nhiên, theo điều 17 được sửa đổi, bé sung của Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh ngoại hối số 28/2005/PL-UBTVQHII, có hiệu lực thi hành từ 01/01/2014, đã cho phép các thé nhân được vay nợ nước ngoài. Như vậy, xét về bản chất của nợ nước ngoài, không có sự khác biệt đáng kế nào trong các định nghĩa vê nợ nước ngoài của Việt Nam hay của các tô chức Quôc 14 tế.
Tuy nhiên, quan niệm về nợ nước ngoài của Quốc tế rõ ràng hơn, mang bản chất và ý nghĩa hơn. Khái niệm nợ nước ngoài về cơ bản mang ý nghĩa thống kê và nhất quán với SNA. Phân loại nợ nước ngoài. Trọng trong công tác theo dõi, đánh giá va quản lý hiệu quả nợ nước ngoài, việc phân loại nợ nước ngoài có vai trò đặc biệt quan.
Hiện nay, các quốc gia trên thế giới sử dụng các tiêu chí phân loại nợ nước ngoài: s* Phân loại nợ nước ngoài theo chủ thé đi vay: Nếu căn cứ vào chủ thể cho vay thì nợ nước ngoài chia thành nợ khu vực công, nợ tư nhân được công quyền bảo lãnh và nợ tư nhân: Nợ khu vực công: là tất cả các khoản nợ tích tụ từ các khoản vay trong nước và nước ngoài của khu vực công mà trách nhiệm trả nợ trực tiếp hoặc gián tiếp thuộc về Nhà nước và là các khoản nợ nước ngoài của chính phủ, chính quyền địa phương và các khoản nợ nước ngoài được chính phủ bảo lãnh. Nợ nước ngoài của khu vực tư nhân (KVTN) được công quyên bảo lãnh: là các công nợ nước ngoài của KVTN ma dịch vụ trả nợ được bảo lãnh theo hợp đồng bởi một đối tượng thuộc khu vực công cư trú tại cùng một nền kinh tế với bên nợ đó. Tại Việt nam, theo Nghị định số 90/1998/ND - CP thì nợ nước ngoai được chia thành nợ Chính phủ và nợ doanh nghiệp. Nợ nước ngoài của Chính phủ bao gồm các khoản vay ODA, vay thương mại hoặc tín dụng xuất khâu và vay từ thị trường vốn quốc tế thông qua phát hành trái phiếu dưới danh nghĩa Nhà nước hoặc Chính phủ ra nước ngoài.
Nợ được Chính phủ bảo lãnh là khoản nợ của DN, tổ chức tài chính, tín dụng vay nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh. Nợ nước ngoài của DN là các khoản nợ được hình thành từ các khoản vay nước ngoài của DN. Vay nước ngoài của các DN là các khoản vay do DN được thành lập và hoạt động theo luật pháp hiện hành của Việt Nam trực tiếp ký vay với bên cho vay nước ngoài theo phương thức tự vay, tự chịu trách nhiệm trả nợ, hoặc vay thông qua trái phiếu nước ngoài. Nợ tư nhân: là các khoản nợ do các doanh nghiệp tư nhân (DNTN) tự vay, tự trả, chủ yếu là từ ngân hang thương mại (NHTM).
Nợ của các chủ nợ tư nhân là các 15 chủ nợ không phải là Chính phủ, các tổ chức thuộc khu vực công như các tổ chức tài chính tư nhân, các nhà xuất khâu, các nhà sản xuất. có khả năng cung cấp tài chính. “+ Phân loại nợ nước ngoài theo thời hạn nợ: Theo tiêu chí phân loại này, nợ nước ngoài được chia thành nợ dài hạn và nợ ngắn hạn. Nợ nước ngoài ngắn hạn: là các khoản vay có thời hạn đưới 12 tháng.
Nợ ngắn hạn tác động đến khả năng thanh toán cũng như hệ số tín nhiệm quốc gia. Nợ nước ngoài dai hạn: đôi với các khoản vay trên 12 tháng, là các khoản nợ rất được quan tâm do khả năng tác động lớn tới nền tài chính quốc gia. Chính vì vậy, các tô chức tài chính quốc tế thường xuyên theo dõi và phân tích ng dài hạn của các quốc gia một cách có hệ thống. Nợ dài hạn phải trả bằng đồng tiền của nước bên nợ và bang hàng hóa dịch vụ.
s* Phân loại nợ nước ngoài theo loại hình vay: Theo tiêu chí phân loại này, nợ nước ngoài được chia thành hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vay thương mại: Vay ODA: Theo OECD, vay hỗ trợ phát triển chính thức bao gồm các chuyền khoản song phương (giữa các Chính phủ) hoặc đa phương (từ các tổ chức quốc tế cho các Chính phủ), trong đó các khoản vay nước ngoài mà yếu tố viện trợ không hoàn lại chiếm ít nhất là 25%. ODA có thé bao gồm: các khoản cho không (bao gồm cả hỗ trợ kỹ thuật), các khoản cho vay ưu đãi, các đóng góp bằng hiện vật, tín dụng của nước cung cấp hàng hóa, và tiền bồi thường. Vốn ODA được cung cấp dưới 2 hình thức: (i) Viện trợ không hoàn lại: thông thường có quy mô nhỏ, chiếm khoảng 15%- 20% tổng nguồn vốn ODA và chỉ giới hạn trong các lĩnh vực nhân đạo, y tế, văn hóa, giáo dục, cải cách và nâng cao năng lực quản lý hành chính nhà nước; (ii) Vốn vay: có quy mô lớn, chiếm khoảng 83-85% tổng nguồn vốn ODA với lãi suất thấp (lãi suất ưu dai) và thời gian hoàn trả dài. Vay thương mại: thường không có ưu đãi về lãi suất và thời gian ấn hạn.
Lãi suất vay thương mại là lãi suất thị trường tài chính quốc tế và khi lãi suất thị trường có sự thay đổi thì lãi suất vay thương mại cũng sẽ thay đổi theo. Do vậy, vay thương 16 mại thường gặp nhiều rủi ro, đồng thời có chi phí khá cao. Đối tượng vay thương mại thường là các doanh nghiệp. ¢ Phân loại nợ nước ngoài theo chủ thé cho vay: Nếu căn cứ vào chủ thể cho vay thì nợ nước ngoài chia thành nợ đa phương và nợ song phương.
No da phương: là các khoản nợ mà chủ nợ thường là các tổ chức quốc tế như các cơ quan của Liên hợp quốc, WB, IMF, ADB, các cơ quan đa phương như OPEC và liên chính phủ. Nợ song phương: là các khoản nợ mà chủ nợ là chính phủ một nước hoặc một tổ chức quốc tế nhân danh một chính phủ duy nhất. Các chỉ số đo lường của nợ nước ngoài. WB và IMF đưa ra các tiêu chí dựa trên co sở nghĩa vụ và khối lượng nợ Đề đánh giá năng lực trả nợ của các quốc gia.
Trong đó, nghĩa vụ nợ phản ánh các khoản nợ géc và lãi chi trả hàng kỳ của các quốc gia, thông thường và được tinh theo năm, còn khối lượng nợ phản ánh gánh nặng nợ có tính đến các khoản thanh toán nợ trong tương lai. Nợ nước ngoài không chỉ liên quan đến thực trạng phát triển của quốc gia hay kha năng trả nợ mà còn liên quan đến khả năng thu hút các nguồn lực tài chính từ bên ngoài nhằm phục vụ cho các mục tiêu vĩ mô của nhà nước. Đề xác định mức độ nghiêm trọng của nợ nước ngoài đối với an ninh tài chính quốc gia thì các chỉ số đánh giá nợ nước ngoài đã được xây dựng thành hệ thông. Như vậy, các chỉ tiêu đánh giá chung về nợ nước ngoài, cụ thê là đánh giá về mức độ nợ, qua đó ngầm cho biết khả năng trả nợ của mỗi quốc gia trong trung và dài hạn.
Các chỉ tiêu nợ nước ngoài được xem xét cụ thể như sau: e Tỷ lệ nợ nước ngoài trên tong kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và dịch vu: Tổng nợ nước ngoài H, .100% __ Kim ngạch xuất khẩu Chỉ tiêu này biểu diễn tỷ lệ nợ nước ngoài bao gồm nợ tư nhân, nợ được chính phủ bảo lãnh trên thu nhập xuất khâu hàng hóa và dịch vụ phương tiện, phản ánh khả năng trả nợ bằng ngoại tệ của quốc gia. Tuy nhiên, nguồn thu xuất khẩu rat dễ biến 17 động từ năm nay sang năm khác và cần có những phương án khác dé trả nợ nước ngoài mà không nhất thiết phải tăng xuất khẩu như hạn chế nhập khẩu hay giảm dự trữ ngoại hối quốc gia. Theo WB va IMF, ngưỡng an toàn của chỉ tiêu này là trên 150%. e Tỷ lệ nợ nước ngoài trên thu NSNN: Tổng nợ nước ngoài Hạ .100% ~ Thu ngân sách nhà nước Chỉ số này đo lường giá trị hiện tại ròng của nợ nước ngoài liên quan đến khả năng trả nợ của quốc gia lay từ nguồn thu NSNN.
Tỷ lệ này càng cao thé hiện áp lực trả nợ từ nguồn thu ngân sách của chính phủ càng lớn. Ngưỡng an toàn của tỷ lệ này là 25%. Tuy nhiên, chỉ tiêu này phải đáp ứng hai điều kiện: (i) tỷ lệ xuất khâu/GDP phải lớn hoặc bằng 30%; (ii) tỷ lệ thu NSNN/GDP phải lớn hơn 15% thì mới được sử dụng. e TY lệ giữa tống nợ nước ngoài trên GDP: He = Tổng nợ nước ngoài 100% ¬ GDP +.
Chỉ số này cho biết khả năng trả nợ (gốc và lãi) của một quốc gia đối với các khoản vay nước ngoài.