Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu Chương 2: Một số cơ sở lý luận của môi trường kinh doanh quốc tế đến hoạt động nhập khẩu hàng hóa Chương 3: Phân tích thực trạng tác động của môi trường kinh doanh quốc tế đến hoạt động nhập khẩu nguyên vật liệu từ thị trường Trụng Quốc của Công ty TNHH Chỉ may Tuấn Hồng Chương 4: Định hướng phát triển và đề xuất giải pháp để cải thiện tác động của môi trường kinh doanh quốc tế đến hoạt động nhập khẩu nguyên vật liệu từ thị trường trung Quốc của Công ty TNHH Chỉ may Tuấn Hồng 8 CHƯƠNG 2: MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA MÔI TRƯỜNG KINH DOANH QUỐC TẾ ĐẾN HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU HÀNG HÓA 2. Một số khái niệm liên quan 2. Lý thuyết về nguyên vật liệu ngành dệt may – chỉ may 2. Khái niệm Theo PGS.TS Doãn Kế Bôn, TS.
Lê Thị Việt Nga, Giáo trình Kinh doanh quốc tế - trường Đại họa Thương mại, Nhà xuất bản Hà Nội (2021), nguyên liệu là những vật tự nhiên chưa qua một sự chế biến nào và cần được lao động, máy móc, kĩ thuật biến hóa mới thành sản phẩm. Ngành công nghệ dệt may hiểu đơn giản là ngành liên quan đến lĩnh vực thiết kế nhằm đáp những ứng nhu cầu về thời trang, may mặc của con người. Ngành dệt may được coi là một trong những ngành đóng vai trò chủ đạo trong sản xuất hàng tiêu dùng, thông qua những công đoạn liên quan đến việc làm vải và thiết kế sản phẩm và may hoàn thiện để đưa đến người tiêu dùng. Một phụ liệu vô cùng quan trọng trong ngành may mặc chính là chỉ may.
Chỉ may là các sợi mềm dẻo, có đường kính nhỏ và đều nhau, có thể kéo thẳng hoặc uốn cong rất dễ dàng, được gia công để có độ nhẵn nhất định giúp xuyên qua vải, kim khâu, được nhuộm hoặc quét dầu để tăng độ chắc của sợi chỉ, tạo màu sắc mong muốn cho sợi chỉ. Chỉ may được dùng để ghép các mảnh vải lại với nhau theo mong muốn của con người để tạo nên những sản phẩm may mặc hoàn chỉnh, phục vụ nhu cầu cuộc sống.Chỉ may có nguồn gốc tự nhiên như len, bông, tơ tằm,… hoặc nguồn gốc nhân tạo như Vico, PES, PA, PAN, …hoặc tổng hợp cả hai loại trên. Nguyên vật liệu ngành dệt may – chỉ may là các xơ sợi dùng để tạo ra chỉ may cho ngành dệt may. Như vậy, nguyên vật liệu ngành dệt may – chỉ may được hiểu là những nguyên vật liệu chưa qua biến đổi như Sợi Spun Polyester, Tơ co dãn, Continuous Filament Polyester.
dùng để cung cấp làm chỉ may cho ngành dệt may. Phân loại Theo nguyên liệu gia công thì chỉ may gồm các loại: chỉ cotton, chỉ cotton có thành phần polyester, chỉ từ sợi lanh, chỉ có thành phần kim loại phủ bên ngoài để 9 tạo độ lấp lánh và sặc sỡ, chỉ nylon từ tơ filament, chỉ PE, chỉ rayon, chỉ từ sợi tơ và chỉ từ sợi len. Theo cấu trúc của chỉ thì sợi chỉ được chia ra làm các loại: chỉ sợi lõi được bọc bông, rất bền và dễ sử dụng; chỉ filament, chỉ filament có hai loại bao gồm chỉ từ sợi filament nylon đơn và chỉ multifilament là chỉ gồm nhiều sợi filament xe kết lại với nhau. Một số loại chỉ thường dùng trong ngành may mặc: Chỉ cotton: chỉ cotton có độ mềm, ít ma sát, độ bền không quá cao, dễ may nhưng có xu hướng co lại khi giặt, hấp , nhuộm và không chịu được co giãn liên tục nên chỉ cotton không phù hợp với vải dệt kim.
Chỉ polyester: Đây được xem là loại chỉ được sử dụng phổ biến nhất trong ngành may mặc bởi độ bền cao, dễ may mặc, chịu được độ co dãn, đàn hồi tốt, sử dụng được cho cả máy may có công suất lớn, có khả năng chống mục, chống hóa chất, kháng nấm mốc tốt. Cấu trúc, chủng loại phong phú, có sợi chỉ xe đơn, xe kép, bọc lõi,… Chỉ PE: có độ bền cao, độ mài mòn của các sợi chỉ cho phép tạo đường may bền, chắc, chịu nhiệt tốt, được sử dụng tương đối nhiều trong ngành may mặc. Chỉ tơ tằm: rất đàn hồi, rất bền, bóng đẹp, sang trọng, được sử dụng để may những mặt hàng sang trọng, len, lụa tơ tằm, có thể khâu máy hoặc khâu tay. Ngoài ra còn có một số loại chỉ sau: Chỉ Rayon: có độ bền cao nhưng độ bền màu dưới nắng lại không cao, có khả năng chống cháy Chỉ bọc lõi: độ bền tuyệt hảo, độ vững chắc, rai của sợi chỉ rất cao, khả năng chịu nhiệt tốt giúp đường may chịu được nhiệt, được sử dụng nhiều trong ngành may mặc thời trang.
Vai trò Ngành dệt may Việt Nam là ngành hàng có truyền thống lâu đời phục vụ yêu cầu căn bản cuộc sống của mọi thế hệ dân tộc Việt Nam và đóng góp to lớn vào công cuộc phát triển vươn tầm ra thế giới của Việt Nam. Theo thống kê của Hiệp hội Dệt may Việt Nam (Vitas), trong năm 2023, kim ngạch xuất khẩu dệt may đạt hơn 40 tỷ USD, thấp hơn gần 10% so với năm 2022. 10 Với đặc điểm sản xuất qua nhiều quy trình, đòi hỏi sự tỉ mỉ, ngành này đã tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người lao động, đặc biệt là lao động không có kỹ năng, trình độ kỹ thuật chuyên môn cao. Lao động có thể đào tạo tại chỗ và phù hợp với lực lượng lao động nữ trên khắp cả nước.
Đến nay, ngành công nghiệp dệt may Việt Nam có hơn 5000 doanh nghiệp đang hoạt động với hơn 2,5 triệu lao động theo Hiệp hội Dệt may và Tổng cục Hải quan. Ngành dệt may còn đòi hỏi vốn đầu tư ít nhưng tỷ lệ lãi khá cao vì vậy sản xuất hàng dệt may thường phát triển mạnh, mang lại hiệu quả kinh doanh lớn. Do đó, đây là một ngành “nuôi sống” các nước đang phát triển và đang ở giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hóa. Ngoài ra công nghiệp may còn có mối liên hệ cung ứng hoặc được cung ứng với các ngành sản xuất, chế biến khác.
Song song, cùng với sự phát triển của ngành dệt may là nhu cầu lớn của nguyên liệu để đáp ứng sức sản xuất mạnh mẽ của ngành. Nguyên vật liệu của ngành dệt may – chỉ may là sản phẩm của ngành công nghiệp khác, do đó sẽ tạo điều kiện thúc đẩy các ngành sản xuất đó phát triển. Từ đó góp phần phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân và ổn định an ninh xã hội. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, nhiều hiệp định được đàm phán và ký kết tạo nhiều điều kiện cho nhập khẩu nguyên vật liệu ngành dệt may.
Từ đó càng tạo ra nhiều cơ hội cho ngành dệt may phát triển, đáp ứng đủ cầu cho ngành dệt may khi mà nguyên vật liệu ngành dệt may trong nước đang còn thiếu. Môi trường kinh doanh quốc tế Theo giáo trình Kinh doanh quốc tế - Đại học Thương mại: Kinh doanh quốc tế hiểu đơn giản là việc thực hiện đầu tư vào sản xuất, mua bán, trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ nhằm mục đích sinh lời, có liên quan tới hai hay nhiều nước và khu vực khác nhau. Hay nói cách khác Kinh doanh quốc tế là việc thực hiênh liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến thương mại hàng hóa và dịch vụ trên các thị trường vượt qua biên giới của hai hay nhiều quốc gia vì mục đích sinh lời. Kinh doanh quốc tế cũng có thể là những hoạt dộng đơn thuần liên quan tới việc xuất khẩu hay nhập khẩu hàng 11 hóa của một công ty.
Nhưng cũng có thể kinh doanh quốc tế là những mạng lưới kinh doanh đa quốc gia, xuyên quốc gia hoặc trên phạm vi toàn cầu. Môi trường kinh doanh quốc tế là sự tác động qua lại giữa các yếu tố môi trường quốc gia với môi trường nước ngoài và giữa các yếu tố môi trường nước ngoài của hai quốc gia khi một công ty hoạt động tại quốc gia này hoạt động kinh doanh với khách hàng của quốc gia khác. Đặc điểm của môi trường kinh doanh quốc tế: Môi trường kinh doanh quốc tế có tính động: luôn vận động và biến đổi không ngừng, nó tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến tất cả doanh nghiệp cùng kinh doanh một mặt hàng, một ngành hàng. Môi trường kinh doanh quốc tế có tính đa dạng: tác động và ảnh hưởng qua lại lẫn nhau.
Sự ảnh hưởng của một yếu tố này sẽ kéo theo các yếu tố khác cũng thay đổi. Môi trường kinh doanh quốc tế có tính phức tạp: rất khó dự đoán chính xác những gì mà nó tác động đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Môi trường kinh doanh quốc tế luôn luôn biến động: thay đổi theo thời gian, gây ra nhiều bất lợi cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải cập nhật kịp thời các biến động thông qua các phân tích, nghiên cứu, đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố môi trường kinh doanh đến doanh nghiệp.
Lý luận chung về hoạt động nhập khẩu 2. Khái niệm PGS.TS Doãn Kế Bôn, TS. Lê Thị Việt Nga, Giáo trình Kinh doanh quốc tế - trường Đại họa Thương mại, Nhà xuất bản Hà Nội (2021), định nghĩa “nhập khẩu hàng hóa được hiểu là các nghiệp vụ cần thiết để đưa hàng hóa hay nguyên vật liệu từ bên ngoài vào trong lãnh thổ một quốc gia hoặc từ khu vực đặc biệt như khu vực hải quan riền nằm trên quốc gia đó để phục vụ tiêu dùng, đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh, hoặc để chờ tái xuất nhằm mục đích thu lợi nhuận”. Các hình thức Nhập khẩu có thể được tổ chức theo nhiều hình thức khác nhau phụ thuộc vào số lượng và các loại hình trung gian thương mại.
Mỗi phương thức sẽ có đặc điểm 12 riêng, có kỹ thuật tiến hành riêng. Theo Nghị định 08/2015/NĐ-CP được ban hành vào ngày 21 tháng 01 năm 2015 thì có các loại hình thức nhập khẩu chủ yếu sau: Nhập khẩu trực tiếp Trong hình thức này, bên mua và bên bán sẽ ký hợp đồng trực tiếp với nhau. Hai bên sẽ tự thống nhất các điều khoản và quyền lợi trong hợp đồng thương mại, không chịu sự ràng buộc từ một đơn vị trung gian nào. Bên nhập khẩu cứu kỹ về thị trường, xác định được sản phẩm hay dịch vụ cần nhập.
Sau khi đã tìm kiếm được đối tác phù hợp thì tiến hành ký kết hợp đồng và thực hiện hợp đồng, bỏ vốn, chịu trách nhiệm mọi rủi ro và chi phí trong giao dịch… Nhập khẩu ủy thác Ngoài sự tham gia của bên mua và bên bán thì còn có sự tham gian của một bên thứ 3 (đơn vị trung gian).