CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ TÁC ĐỘNG CỦA MINH BẠCH THÔNG TIN TỚI CHI PHÍ VỐN CỔ PHẦN Tổng quan tình hình nghiên cứu tập trung phân tích ba hướng nghiên cứu chính đang được thực hiện có liên quan đến vấn đề thông tin của doanh nghiệp và chi phí vốn cổ phần: (1) Mức độ công bố thông tin và chi phí vốn cổ phần, (2) Chất lượng thông tin công bố và chi phí vốn cổ phần, (3) Rủi ro thông tin và chi phí vốn cổ phần. Tổng quan các công trình nghiên cứu về mức độ công bố thông tin và chi phí vốn cổ phần Việc công bố thông tin của doanh nghiệp có vai trò quan trọng để thị trường tài chính vận hành hiệu quả. Nhu cầu về thông tin công bố ngày càng gia tăng trước những vấn đề về bất cân xứng thông tin và những xung đột về lợi ích giữa nhà quản trị và các nhà đầu tư. Những nghiên cứu lý thuyết đã chỉ ra rằng mức độ công bố thông tin và chi phí vốn cổ phần có mối quan hệ ngược chiều nhau, kết luận này được chứng minh bởi 2 dòng nghiên cứu chính.
Dòng nghiên cứu thứ nhất cho rằng thông tin công bố càng nhiều sẽ tạo điều kiện gia tăng thanh khoản cho cổ phiếu của doanh nghiệp, qua đó giảm chi phí giao dịch. Diamond và Verrecchia (1991) kết luận rằng thông tin công bố tự nguyện sẽ giảm sự bất cân xứng thông tin giữa những nhà đầu tư có ưu thế và không có ưu thế về thông tin. Từ đó, các nhà đầu tư có thể tin tưởng rằng đối với những doanh nghiệp có mức độ công bố thông tin cao, mọi giao dịch đang được thực hiện tại mức “giá hợp lý” (fair price). Dòng nghiên cứu thứ hai chứng minh rằng công bố thông tin càng nhiều thì rủi ro ước lượng từ việc ước lượng các tham số về lợi suất của các nhà đầu tư càng giảm.
Nếu như rủi ro ước lượng không thể được loại trừ bởi đa dạng hóa, nhà đầu tư sẽ yêu cầu một phần bù rủi ro đối với loại rủi ro này. Rủi ro ước lượng giảm sẽ làm giảm lợi suất yêu cầu của nhà đầu tư đối với tài sản tài chính giảm, qua đó giảm chi phí vốn. Những nghiên cứu thực nghiệm của Healy và cộng sự (1999), Botosan (1997), Botosan và Plumlee (2002), Leuz và Verrecchia (2000), Hail (2002), Francis và cộng sự (2003), Gietzmann và Ireland (2005) về mối quan hệ giữa công bố thông tin 10 của doanh nghiệp và chi phí vốn cổ phần tại các thị trường và các giai đoạn khác nhau cũng cho ra cùng kết luận về mối quan hệ này. Greenstein và Sami (1994) đã kiểm chứng tác động của những quy định về công bố thông tin của Ủy ban Chứng khoán Mỹ (SEC) đến chi phí vốn cổ phần thông qua phân tích mức chênh lệch giá mua bán.
Greenstein và Sami đã chọn ngẫu nhiên các doanh nghiệp niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán New York (NYSE) trong năm 1970 làm mẫu nghiên cứu. Nghiên cứu đã kiểm chứng việc thực hiện yêu cầu cung cấp thông tin theo mẫu 10-K của SEC bao gồm những thông tin về doanh nghiệp, thông tin về sở hữu, thông tin báo cáo tài chính đã được kiểm toán và các thông tin khác của doanh nghiệp đối với biến động mức chênh lệch giá mua bán vào kỳ tiếp theo, kết quả nghiên cứu cho thấy mức chênh lệch giá mua bán giảm đối với những doanh nghiệp thực hiện việc công bố thông tin theo SEC ngay lần đầu tiên. Healy và cộng sự (1999) đã nghiên cứu tác động của mức độ công bố thông tin của doanh nghiệp theo xếp hạng đánh giá của Hiệp hội Nghiên cứu và Quản trị Đầu tư (AIMR) tới tính thanh khoản của cổ phiếu, lợi ích của các nhà đầu tư có tổ chức và sự quan tâm của giới phân tích. Họ lấy mẫu 97 doanh nghiệp trong giai đoạn từ năm 1980 đến 1990.
Kết quả cho thấy việc mở rộng chính sách công bố thông tin của doanh nghiệp làm tăng lợi suất chứng khoán và tăng tỷ lệ sở hữu đối với nhà đầu tư có tổ chức và thu hút sự quan tâm của của các chuyên gia phân tích. Thêm vào đó, bằng việc đưa vào mô hình biến kiểm soát là lợi nhuận của doanh nghiệp và những biến số khác có liên quan, họ đã kết luận rằng công bố thông tin có sự biến động ngược chiều với mức chênh lệch giá mua – bán chứng khoán, mức chênh lệch này được thu hẹp do lượng công bố thông tin tăng lên. Cũng sử dụng thước đo chênh lệch giá mua – bán để đo lường tính thanh khoản của thị trường nhằm xác định mức độ bất cân xứng thông tin, Welker (1995) đã chỉ ra rằng biến số đại diện cho hiện tượng bất cân xứng thông tin này có mối quan hệ ngược chiều với lượng thông tin công bố. Hơn thế nữa, mối quan hệ này biểu hiện rõ rệt hơn đối với những doanh nghiệp có tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư có tổ chức cao (đại diện cho tỷ lệ những nhà đầu tư có ưu thế về thông tin).
Welker chứng minh rằng trong trường hợp này mối quan hệ giữa công bố thông tin và khoảng cách chênh lệch giá mua – bán có tương quan ngược nhiều và có ý nghĩa thông kê ở mức 1%. 11 Leuz và Verrecchia (2000) cũng tập trung chứng minh về mối quan hệ giữa công bố thông tin và chi phí vốn với đối tượng nghiên cứu là các doanh nghiệp tại Đức. Mẫu nghiên cứu được lựa chọn để so sánh là các doanh nghiệp áp dụng chuẩn mực kế toán IAS hoặc U.GAAP so với các doanh nghiệp sử dụng chuẩn mực kế toán Đức. Việc lựa chọn chuẩn mực kế toán quốc tế để áp dụng đối với các doanh nghiệp tại Đức có ý nghĩa tích cực trong việc thúc đẩy các công ty tại Đức công bố nhiều hơn những thông tin doanh nghiệp theo yêu cầu của các chuẩn mực này.
Leuz và Verrecchia cho rằng những doanh nghiệp lựa chọn sử dụng chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS hoặc U.GAAP) sẽ đạt được những lợi ích kinh tế nhất định, đó là giảm thiểu sự bất cân xứng thông tin qua đó giảm chi phí vốn cổ phần. Hai nhà nghiên cứu đã chứng minh rằng các công ty áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế có mức chênh lệch giá mua – bán thấp hơn và lượng giao dịch cao hơn so với các công ty áp dụng chuẩn mực kế toán quốc gia tại Đức. Có thể thấy, những nghiên cứu trên đã sử dụng rất nhiều những thước đo khác nhau đo lường mức độ công bố thông tin của doanh nghiệp, tuy nhiên những thước đo này là đo lường gián tiếp thông qua các chỉ số và chỉ tiêu có liên quan đến chính sách công bố thông tin của doanh nghiệp, hơn nữa những nghiên cứu này chưa tập trung ước lượng trực tiếp chi phí vốn chủ sở hữu để xem xét tác động của mức độ công bố thông tin lên lợi suất yêu cầu của nhà đầu tư mà cụ thể là chi phí vốn cổ phần. Nghiên cứu đã đưa ra bằng chứng về mối quan hệ ngược chiều và có ý nghĩa thống kê giữa mức độ công bố thông tin (tự xây dựng thang đo trực tiếp) và chi phí vốn cổ phần.
Tác giả đo lường mức độ công bố các loại thông tin khác nhau trong báo cáo thường niên năm 1990 của 122 doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp chế tạo. Kết quả cho thấy, cứ một đơn vị DSCORE (mức độ công bố thông tin theo cách tính điểm của Botosan) tăng lên thì vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp giảm được 0. Một kết quả nữa được đề cập đến trong nghiên cứu của Botosan là những thông tin công bố trong báo cáo thường niên có vai trò quan trọng đối với những doanh nghiệp ít được quan tâm bởi các chuyên gia phân tích hơn so với những doanh nghiệp được chú ý nhiều bởi giới phân tích. 12 Phát triển từ nghiên cứu của Botosan (1997), Botosan và Plumlee (2002) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa chi phí vốn cổ phần với ba nguồn thông tin công bố của doanh nghiệp (báo cáo thường niên, báo cáo quý và các báo cáo công bố khác; và mối quan hệ với các nhà đầu tư) cho mẫu gồm các doanh nghiệp đại diện cho 43 ngành khác nhau trải dài từ năm 1986 đến năm 1996.
Mô hình xem xét mối quan hệ này với hai biến kiểm soát là quy mô doanh nghiệp và hệ số beta. Kết quả mô hình chỉ ra rằng công bố báo cáo thường niên càng đầy đủ thông tin thì càng giúp làm giảm chi phí vốn cổ phần của doanh nghiệp. Tuy nhiên, trái ngược lại với những kỳ vọng nghiên cứu ban đầu thì hệ số công bố thông tin đối với các báo cáo khác (ROPBSCR) lại làm tăng chi phí vốn cổ phần. Điều này được tác giả giải thích rằng những thông tin công bố thường xuyên có thể chỉ thu hút những nhà đầu cơ tìm kiếm lợi nhuận trong ngắn hạn.
Gietzmann và Ireland (2005) lại chứng minh điều ngược lại, họ cho rằng kết quả trên xảy ra có thể do việc xây dựng giả thuyết chưa thực sự chính xác và có tồn tại sự tương quan với các biến ẩn trong mô hình. Gietzmann và Ireland đã xây dựng thước đo công bố thông tin thường xuyên dựa trên chất lượng thông tin được cung cấp nhiều hơn các chỉ tiêu liên quan đến số lượng thông tin công bố. Kết quả cho thấy việc công bố thông tin thường xuyên có hiệu quả trong việc làm giảm chi phí vốn cổ phần và tác động này càng rõ ràng đối với những doanh nghiệp có chính sách tích cực trong việc công bố thông tin. Hail (2002) đã thực hiện nghiên cứu về mối quan hệ giữa mức độ công bố thông tin đến chi phí vốn cổ phần trong môi trường công bố thông tin hạn chế tại Thụy Sĩ.
Tác giả sử dụng chỉ số công bố thông tin tự nguyện được phát triển bởi Viện Nghiên cứu Ngân hàng Thụy Sĩ (SBI) và sử dụng phương pháp xác định chi phí vốn cổ phần ẩn, Hail kết luận rằng chỉ số công bố thông tin của 73 doanh nghiệp thuộc mẫu nghiên cứu có tương quan âm với chi phí vốn cổ phần. Những doanh nghiệp cung cấp báo cáo tài chính đầy đủ sẽ đạt được lợi thế chi phí từ 1.4% so với những doanh nghiệp công bố không đầy đủ thông tin. Bài phân tích của Kothari và Short (2003) đã kiểm định tác động của thông tin công bố từ ban quản trị, nhà phân tích và các tạp chí tài chính đến chi phí vốn cổ phần. Tác giả chọn mẫu 877 doanh nghiệp trong giai đoạn từ năm 1996 đến năm 2001, từ mẫu trên tác giả thu thập được 326.