Nghiên Cứu Tác Động Của Lao Động Qua Đào Tạo Nghề Đến Giảm Nghèo Đa Chiều Tại Vùng Tây Bắc

Luận án tiến sĩ phân tích tác động của lao động qua đào tạo nghề đến giảm nghèo đa chiều tại vùng Tây Bắc, đề xuất giải pháp hiệu quả.

Chuyên ngành

Khoa học quản lý

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

179
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về lao động qua đào tạo nghề và giảm nghèo đa chiều

Lao động qua đào tạo nghề là một yếu tố quan trọng trong việc nâng cao năng suất và cải thiện thu nhập của người lao động. Theo lý thuyết vốn con người của Becker (1975), đào tạo nghề giúp người lao động có kỹ năng chuyên môn, từ đó tăng cơ hội việc làm và thu nhập. Giảm nghèo đa chiều không chỉ tập trung vào thu nhập mà còn bao gồm các khía cạnh như tiếp cận giáo dục, y tế, nhà ở và thông tin. Vùng Tây Bắc là khu vực có tỷ lệ nghèo cao nhất cả nước, với nhiều hộ gia đình gặp khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ cơ bản. Nghiên cứu này nhằm phân tích tác động của lao động qua đào tạo nghề đến giảm nghèo đa chiều thông qua việc làm và thu nhập.

1.1. Cơ sở lý luận về lao động qua đào tạo nghề

Lao động qua đào tạo nghề được định nghĩa là những người đã được trang bị kỹ năng chuyên môn thông qua các chương trình đào tạo nghề. Theo Krueger (1983), đào tạo nghề giúp người lao động có cơ hội tìm kiếm việc làm tốt hơn, từ đó cải thiện thu nhập và giảm nghèo. Đào tạo nghề cũng được coi là một công cụ hiệu quả để thúc đẩy phát triển bền vữngphát triển nông thôn, đặc biệt là ở các vùng khó khăn như Tây Bắc.

1.2. Khái niệm và đo lường nghèo đa chiều

Nghèo đa chiều được đo lường dựa trên nhiều tiêu chí, bao gồm thu nhập, tiếp cận giáo dục, y tế, nhà ở và thông tin. Theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg, nghèo đa chiều được xác định dựa trên các chỉ số thiếu hụt trong các lĩnh vực cơ bản. Vùng Tây Bắc có tỷ lệ nghèo đa chiều cao do điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và thiếu hụt các dịch vụ cơ bản.

II. Thực trạng lao động qua đào tạo nghề và giảm nghèo đa chiều ở Tây Bắc

Vùng Tây Bắc có lực lượng lao động lớn nhưng trình độ chuyên môn thấp, với hơn 83% lao động không có chuyên môn kỹ thuật. Đào tạo nghề đã được triển khai nhưng hiệu quả chưa cao, đặc biệt là ở khu vực nông thôn. Tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo ở vùng này vẫn ở mức cao, với nhiều hộ gia đình gặp khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ cơ bản. Nghiên cứu chỉ ra rằng lao động qua đào tạo nghề có tác động tích cực đến việc làm và thu nhập, từ đó góp phần giảm nghèo đa chiều.

2.1. Thực trạng lao động qua đào tạo nghề

Trong giai đoạn 2014-2018, số lượng lao động qua đào tạo nghề ở Tây Bắc tăng nhẹ, nhưng tỷ lệ vẫn còn thấp so với cả nước. Lao động qua đào tạo nghề chủ yếu tập trung ở khu vực thành thị, trong khi khu vực nông thôn vẫn chiếm đa số. Đào tạo nghề chưa được triển khai hiệu quả do thiếu cơ sở vật chất và giáo viên có trình độ.

2.2. Thực trạng nghèo đa chiều ở Tây Bắc

Vùng Tây Bắc có tỷ lệ nghèo đa chiều cao nhất cả nước, với nhiều hộ gia đình thiếu hụt trong việc tiếp cận các dịch vụ cơ bản như y tế, giáo dục và nhà ở. Các chính sách giảm nghèo đã được triển khai nhưng hiệu quả chưa cao, đặc biệt là ở các vùng sâu, vùng xa. Giảm nghèo đa chiều cần được thực hiện thông qua việc cải thiện chất lượng đào tạo nghề và tăng cường tiếp cận các dịch vụ cơ bản.

III. Tác động của lao động qua đào tạo nghề đến giảm nghèo đa chiều

Nghiên cứu chỉ ra rằng lao động qua đào tạo nghề có tác động tích cực đến việc làm và thu nhập của người lao động ở Tây Bắc. Những người được đào tạo nghề có cơ hội việc làm tốt hơn và thu nhập cao hơn so với những người không được đào tạo. Điều này góp phần giảm nghèo đa chiều thông qua việc cải thiện khả năng tiếp cận các dịch vụ cơ bản. Tuy nhiên, hiệu quả của đào tạo nghề còn hạn chế do thiếu sự liên kết giữa đào tạo và thị trường lao động.

3.1. Tác động đến việc làm và thu nhập

Lao động qua đào tạo nghề có tỷ lệ có việc làm cao hơn và thu nhập ổn định hơn so với lao động không được đào tạo. Điều này giúp cải thiện đời sống của các hộ gia đình và góp phần giảm nghèo đa chiều. Tuy nhiên, hiệu quả của đào tạo nghề còn phụ thuộc vào chất lượng đào tạo và sự phù hợp với nhu cầu thị trường lao động.

3.2. Tác động đến tiếp cận dịch vụ cơ bản

Những hộ gia đình có lao động qua đào tạo nghề có khả năng tiếp cận các dịch vụ cơ bản như y tế, giáo dục và nhà ở tốt hơn. Điều này góp phần giảm nghèo đa chiều và nâng cao chất lượng cuộc sống. Tuy nhiên, sự chênh lệch về tiếp cận dịch vụ giữa các vùng và nhóm dân cư vẫn còn lớn.

IV. Giải pháp thúc đẩy đào tạo nghề và giảm nghèo đa chiều

Để thúc đẩy đào tạo nghềgiảm nghèo đa chiềuTây Bắc, cần có các giải pháp đồng bộ. Trong đó, việc nâng cao chất lượng đào tạo nghề, tăng cường liên kết giữa đào tạo và thị trường lao động, và cải thiện tiếp cận các dịch vụ cơ bản là những yếu tố quan trọng. Các chính sách hỗ trợ cần được triển khai hiệu quả để đảm bảo phát triển bền vữnggiảm nghèo bền vững.

4.1. Giải pháp về đào tạo nghề

Cần nâng cao chất lượng đào tạo nghề thông qua việc đầu tư cơ sở vật chất và đào tạo giáo viên có trình độ. Đồng thời, tăng cường liên kết giữa các cơ sở đào tạo và doanh nghiệp để đảm bảo đào tạo phù hợp với nhu cầu thị trường lao động.

4.2. Giải pháp về giảm nghèo đa chiều

Cần cải thiện tiếp cận các dịch vụ cơ bản như y tế, giáo dục và nhà ở thông qua việc đầu tư cơ sở hạ tầng và triển khai các chính sách hỗ trợ hiệu quả. Đồng thời, thúc đẩy phát triển cộng đồng và nâng cao nhận thức của người dân về giảm nghèo bền vững.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Các nghiên cứu về tác động của đào tạo nghề đến việc làm của người lao động 1. Các nghiên cứu quốc tế về tác động của đào tạo nghề đến việc làm của người lao động Vốn xã hội tạo ra việc làm cho người lao động ở tất cả các khu vực, trong đó khu vực thành thị chiếm tỷ trọng lớn (Norwood, 2001). Qua nghiên cho thấy tác động của các thuộc tính về vốn xã hội đối với chất lượng việc làm là tối thiểu so với vốn nhân lực.

Kết quả nghiên cứu cho rằng các ảnh hưởng của vốn con người đối với chất lượng việc làm là sự trung gian của vốn xã hội theo một cách cụ thể. Cũng có sự hạn chế cho giả thuyết rằng sự canh tranh và vốn xã hội có tác động đến chất lượng việc làm. Những phát hiện này cho thấy cần tiếp tục nhấn mạnh vào sự công bằng trong việc đào tạo nghề cho người lao động. Kết quả cho thấy cần phải có nhiều nguồn lực để làm cầu nối thu hẹp khoảng cách giữa đào tạo nghề và xã hội, trong đó có các dân tộc thiểu số.

Các chương trình tập trung nâng cao kỹ năng kỹ thuật là cần thiết nếu như người lao động được kỳ vọng sẽ có khả năng cạnh tranh về cơ hội việc làm trong thị trường lao động. Trong nghiên cứu của mình tại Trung Quốc, Zhang Cong Cheng (2008) cho rằng trong điều kiện làm việc của Trung Quốc, từ các khía cạnh về số lượng việc làm, cơ cấu việc làm và phân phối ngành cho thấy cơ cấu dân số của người làm việc tại Trung Quốc không thể đáp ứng nhu cầu về phát triển kinh tế xã hội và yêu cầu quá trình công nghiệp. Vì vậy tăng cường đào tạo nghề cho người lao động và nâng cao kỹ năng nghề nghiệp của người lao động là những phương pháp hiệu quả để thúc đẩy việc làm và giảm thất nghiệp. Bên cạnh đó ông cũng chỉ ra rằng trình độ tay nghề thấp của người lao động là lý do chính để sa thải và thất nghiệp ở các thành phố và thị trấn, do đó tăng cường đào tạo nghề là chìa khóa để thúc đẩy việc tái lao động cho người thất nghiệp.

Ở góc độ xã hội, Jacobs Garry and Slaus Ivo (2011) cho rằng lý thuyết về việc làm trong xã hội rộng lớn cần phải tính đến nhu cầu thực tế và năng lực của người lao động. Nếu bạn càng phát triển và thu hút họ, thì sự phát triển về năng lực và trình độ tay nghề của họ càng mở rộng nhiều chiều. Thất nghiệp là một hình thức nghiêm trọng của sự tước đoạt đi cơ hội làm việc và thu nhập của người lao động. Một lý do cho sự 8 thiếu sót này là khó khăn trong việc phân tích, dự báo chính xác và đáng tin cậy liên quan đến mức thất nghiệp và thiếu việc làm trong tương lai.

Trong trường hợp không có cơ hội việc làm phù hợp, nhiều người tìm đến các công việc bán thời gian vì không thể tìm được việc làm toàn thời gian. Theo kết quả nghiên cứu thì số người làm việc bán thời gian ở Mỹ đã tăng gấp đôi trong suốt cuộc suy thoái kinh tế. Dedu (2012) vấn đề lao động qua đào tạo nghề và việc làm là một chủ đề quan trọng của các nhà nghiên cứu quan tâm để phát triển kinh tế, xã hội và chính trị. Theo Tổ chức Hợp tác kinh tế và phát triển (2012), đầu tư vào đào tạo nghề làm tăng những kỹ năng của cá nhân, tăng khả năng làm việc và cơ hội kinh doanh cho cả nam và nữ.

Ngoài tác động trực tiếp của đào tạo nghề lên sự tham gia vào nền kinh tế hay các hoạt động khác, đào tạo nghề cũng có tác động đến những khía cạnh xã hội khác như tuổi thọ, tỉ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh, tỉ lệ sinh hay sức khỏe cá nhân. Vì vậy cần một sự đầu tư lớn trong chính sách đào tạo nghề nâng cao chất lượng lao động cho người lao động và sức khỏe của những thế hệ tương lai. Không một quốc gia hiện đại nào có thể phát triển thịnh vượng mà không có một hệ thống các cơ sở đào tạo nghề chất lượng và phù hợp với quy luật cung cầu lao động. Các nghiên cứu trong nước về tác động của đào tạo nghề đến việc làm của người lao động Bùi Tôn Hiến (2009) cùng với nghiên cứu của mình tác giả đã chỉ ra xác suất để một lao động qua đào tạo nghề tìm được việc làm ổn định cao hơn rất nhiều so với những người lao động không có chuyên môn kỹ thuật, trong đó chú trọng quan tâm đào tạo nghề cho đối tượng lao động có trình độ học vấn từ trung học cơ sở và trung học phổ thông trở lên.

Tác giả cũng nhấn mạnh vai trò của giáo dục và đào tạo mang lại cơ hội việc làm cho người lao động nói chung và lao động qua đào tạo nghề nói riêng. Đặng Thị Thơm (2015) với nghiên cứu quyền bình đẳng cơ hội việc làm và thu nhập của lao động nữ, tác giả đã chỉ ra rằng: “Bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ về việc làm trước hết được thể hiện ngay ở việc tuyển dụng lao động; đây chính là giai đoạn quan trọng trong việc thiết lập quan hệ lao động để người lao động được làm việc; không có sự phân biết đối xử giữa lao động nam và lao động nữ trong vấn đề này; bất kể nam hay nữ đủ độ tuổi, đủ điều kiện đều được tuyển dụng lao động”. Viện Khoa học Lao động và Xã hội (2017) trong báo cáo về đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn ở Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa đã nghiên cứu ba nội dung chính, đó là: 1) Đổi mới hệ thống đào tạo nghề; 2) Chính sách hỗ trợ cho lao động nông thôn và thanh niên nông thôn tham gia học nghề; 3) Việc làm và thu nhập của thanh niên nông thôn sau khi học nghề. Qua kết quả 9 nghiên cứu khẳng định việc đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn đã góp phần thay đổi cơ cấu tỷ lệ lao động theo hướng hiện đại trong các lĩnh vực của đời sống.

Nghiên cứu cũng chỉ ra các ưu điểm và hạn chế của Đề án 1956 của Chính phủ để từ đó gợi ý và đề xuất một số chính sách đến đào tạo nghề cho thanh niên nông thôn trong thời gian tới. Một điểm đáng lưu ý của nghiên cứu đó là thu nhập của thanh niên nông thôn sau khi đào tạo nghề có hướng tăng hơn so với thanh niên chưa qua đào tạo nghề khoảng 20%. Nguyễn Đình Phúc (2017) đã đánh giá xác định các yếu tố tác động đến khả năng tham gia việc làm phi nông nghiệp của lao động nông thôn. Tác giả đã kế thừa các lý thuyết và kết quả nghiên cứu thực nghiệm để xác định sự tác động đến khả năng tham gia việc làm của lao động nông thôn, cụ thể: “Tuổi; giới tính; trình độ giáo dục; học nghề; quy mô gia đình; thu nhập nông nghiệp; nông nhàn; tổ hợp sản xuất; giao thông; thông tin việc làm; dự án tạo việc làm; chính sách tín dụng”.

Tác giả sử dụng mô hình xác suất Probit để xác định mức độ tác động đến khả năng tham gia việc làm phi nông nghiệp của lao động nông thôn. Các nghiên cứu về tác động của đào tạo nghề đến thu nhập của người lao động 1. Các nghiên cứu quốc tế về tác động của đào tạo nghề đến thu nhập của người lao động Lý thuyết về vốn con người của Becker (1975) khẳng định rằng đào tạo nghề tạo ra kĩ năng lao động với trình độ tay nghề cao là cơ sở để nâng cao năng suất lao động. Một phần quan trọng của lợi nhuận để đào tạo nghề dường như mang lại lợi ích cho người sử dụng lao động.

Nghiên cứu tìm thấy tác động tích cực đến năng suất thường lớn hơn hiệu ứng tiền lương (Bartel, 1994; Zwick, 2005), ngụ ý rằng đào tạo nghề làm tăng khả năng sinh lời (Ballot và cộng sự, 2006; Dearden và cộng sự, 2006; Conti, 2005). Trong thực tế, Hansson's (2008) tổng quan cho thấy rằng các nhà tuyển dụng nắm bắt phần lớn về lợi nhuận của việc đào tạo nghề cho người lao động. Đầu tư vào đào tạo nghề cũng như đầu tư vào bất kỳ dự án nào đều đem lại lợi ích. Những người đưa ra lý thuyết về vốn con người tìm thấy những bằng chứng để củng cố những khẳng định trên.

Đầu tiên, họ tìm thấy mối quan hệ mạnh mẽ về tiền lương (thu nhập) người lao động nhận được trong công việc với trình độ tay nghề của họ. Mối quan hệ này được kiểm chứng và có mối quan hệ cùng chiều ở tất cả các lĩnh vực xã hội. Trên thị trường lao động cạnh tranh và thị trường hàng hóa, những người có trình độ tay nghề cao hơn 10 thì có năng suất lao động cao hơn. Những người thuê nhân công thường sử dụng những đặc điểm của đào tạo nghề như là một điều kiện để kiểm tra sự phù hợp và xem họ có đạt tiêu chuẩn cho một công việc cũng như năng suất lao động của những lao động trong tương lai.

Thứ hai, thu nhập của những người được đào tạo nghề ngày càng cao và tăng nhanh hơn so với những người không được đào tạo nghề. Những xu hướng này chỉ ra rằng đào tạo nghề không chỉ làm cho người ta có năng suất lao động cao hơn, thu nhập cao hơn mà còn tăng khả năng tự học thông qua việc làm hàng ngày của họ. Theo Psacharopoulos (2000) giáo dục tạo ra nguồn nhân lực bằng cách truyền đạt học tập và đào tạo. Giáo dục cho phép mọi người kiếm tiền theo cách tốt hơn.

Họ nhận thấy rằng mức thu nhập của người lao động khác nhau trên cơ sở mức độ học tập hay một gói giáo dục bao gồm về phương pháp sư phạm và kỹ năng linh hoạt là một cách tiếp cận thành công để giúp tăng thu nhập của người lao động. Self and Grabowski (2004) xem xét tác động của các cấp giáo dục khác nhau đối với thu nhập ở Ấn Độ. Họ phân loại giáo dục thành ba cấp độ: tiểu học, trung học và đại học. Kết quả của họ cho thấy giáo dục tiểu học có tác động nhân quả tích cực mạnh mẽ đến tăng trưởng thu nhập trong khi giáo dục trung học có tác động tương đối hạn chế đến tăng trưởng thu nhập.

Trong nghiên cứu của Mughal,W. (2007) đã tìm thấy mối quan hệ tuyến tính trực tiếp giữa giáo dục và thu nhập.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Tác Động Của Lao Động Qua Đào Tạo Nghề Đến Giảm Nghèo Đa Chiều Ở Tây Bắc" tập trung phân tích vai trò của đào tạo nghề trong việc cải thiện chất lượng lao động và giảm nghèo đa chiều tại khu vực Tây Bắc. Nghiên cứu chỉ ra rằng việc nâng cao kỹ năng nghề nghiệp không chỉ giúp người lao động có thu nhập ổn định hơn mà còn góp phần phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho những ai quan tâm đến các giải pháp phát triển nguồn nhân lực và giảm nghèo bền vững.

Để mở rộng kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ kinh tế chính trị phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ ở việt nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ kinh tế chính trị phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở viện khoa học lao động và xã hội, và Tiểu luận kinh tế học vĩ mô đề tài thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thành phố hà nội giai đoạn 2019 2023. Những tài liệu này sẽ cung cấp thêm góc nhìn đa chiều về phát triển nguồn nhân lực và các giải pháp nâng cao chất lượng lao động trong bối cảnh hiện đại.