Chương 1: Khái niệm chung về khủng hoảng và khủng hoảng tài chính tiền tệ Mỹ 2007 – 2009. Chương này nhằm làm rõ khái niệm khủng hoảng, tác động và nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Mỹ 2007 – 2009. Chương 2: Kinh tế Trung Quốc trước và trong khủng hoảng tài chính tiền tệ 2007 – 2009. Chương 2 tập trung vào việc xem xét, đánh giá tình hình kinh tế Trung Quốc trong thập niên đầu thế kỷ 21 cho đến trước khủng hoảng tài chính tiền tệ, sau đó phân tích và đánh giá những tác động của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Mỹ đến nền kinh tế Trung Quốc.
Chương 3: Chính sách của Trung Quốc đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Mỹ 2007 – 2009, kết quả và bài học rút ra. Nội dung bao gồm những phân tích về chính sách của Trung Quốc đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ Mỹ, và những nhận xét đánh giá về kết quả của những chính sách này, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm. z 10 CHƢƠNG 1: Khái niệm chung về khủng hoảng và khủng hoảng tải chính tiền tệ Mỹ 2007 – 2009 1. Tổng quan về khủng hoảng: Khái niệm về khủng hoảng: Khủng hoảng là một giai đoạn hay một trạng thái không ổn định , đă ̣c biê ̣t là khi có những thay đổ i nghiêm tro ̣ng ngoài mong đơ ̣i hay những tình huố ng đã đế n giai đoa ̣n nguy kich ̣.
Khủng hoảng là sự hoảng loạn , sơ ̣ haĩ ở quy mô lớn liên quan đế n nhiề u người, nhiề u quố c gia , vùng và lãnh thổ. Có các loại khủng hoảng như khủng hoảng chính trị , khủng hoảng kinh tế , khủng hoảng tài chính , khủng hoảng niềm tin… Khủng hoảng tài chính toàn cầ u : Khủng hoảng kinh tế là sự suy thoái các hoạt động kinh tế trầm trọng và lâu dài. Suy thoái kinh tế có thể liên quan đế n sự suy giảm đồ ng thời các chỉ số kinh tế của toàn bô ̣ hoa ̣t đô ̣ng kinh t ế. Khủng hoảng tài chính toàn cầu là tình trạng bất ổn định tài chính lan tỏa , có hiệu ứng dây chuyền và có ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế thế giới.
Khủng hoảng toàn cầu là hậu quả của sự suy giảm – suy thoái ké o dài , ảnh hưởng lớn đế n tố c đô ̣ tăng trưởng kinh tế , gây trì trê ̣ ở hầ u hế t các nước. Trong nề n kinh tế thế giới hiê ̣n đa ̣i , sự lây lan của khủng hoảng tài chính thường đi kèm với sự suy thoái kinh tế kéo dài. Mô ̣t số dấ u hiê ̣u của khủng hoảng tài chính là bẫy thanh khoản xảy ra từ ngân hàng , do ngân hàng thương mại (NHTM) không hoàn trả đươ ̣c những khoản tiề n gửi của người gửi tiề n , các khách hàng vay vốn , gồ m cả các khách hàng đươ ̣c xế p loại tốt nhất , cũng không thể hoàn trả đầ y đủ các khoản vay cho ngân hàng ; và khi khủng hoảng tài chính xảy ra thì Chính phủ và Ngân hàng Trung ương (NHTW) có thể sử dụng nhiều z 11 biê ̣n pháp , chính sách … để ổn định tâm lý n gười gửi tiề n , hạn chế đến mức cao nhấ t tình tra ̣ng “tâm lý đẩ y” , tránh sự sụp đổ mang tính hệ thống. Khủng hoảng tài chính thường bao gồm khủng hoảng tiền tệ , khủng hoảng ngân hàng , khủng hoảng nợ nần trong nền kinh tế và sự suy thoái nặng nề của thị trường chứng khoán.
Khủng hoảng tiền tệ là trạng thái mà ở đó một cuộc tấn công vào đồng tiề n nô ̣i tê ̣ dẫn đế n sự thâm hu ̣t phầ n lớn dự trữ ngoa ̣i tê ̣ và làm mấ t giá nhanh chóng đồng t iề n nô ̣i tê ̣ hoă ̣c buô ̣c các cơ quan chức năng phải có các biê ̣n pháp phòng vệ bằng cách sử dụng một lượng dự trữ lớn hoặc sử dụng linh hoạt các công cu ̣ điề u hành chin ́ h sách tiề n tê ̣ liên quan đế n quan hê ̣ tổ ng cung – cầ u, tổng phương tiện thanh toán … Khủng hoảng tiền tệ còn gọi là khủng hoảng cán cân thanh toán xảy ra khi giá trị của một đồng tiền thay đổi nhanh chóng làm suy giảm chức năng vốn có của đồng tiền. Theo nghiã he ̣p , khủng hoảng tiề n tê ̣ thường gắ n liề n với chế đô ̣ tỷ giá hố i đoái cố đinh, ̣ tức trong mô ̣t hoàn cảnh hế t sức bi ̣đô ̣ng như kinh tế đi xuố ng hoă ̣c vấ p phải làn sóng đầ u cơ cực lớn , mô ̣t quố c gia đang áp du ̣ng chế đô ̣ tỷ giá hố i đoái cố đinh ̣ sẽ phải tiế n hành điề u chin̉ h chế đô ̣ này ở trong nước và chuyể n sang áp du ̣ng chế đô ̣ tỷ giá hố i đoái thả nổ i và mức đô ̣ tỷ giá hố i đoái mà thi ̣ trường quyế t đinh ̣ thường cao hơn rấ t nhiề u mức đô ̣ mà Chính phủ cố gắ ng duy trì. Mức biế n đô ̣ng tỷ giá hố i đoái thường rấ t khó kiể m soát , hiê ̣n tươ ̣ng này chính là khủng hoảng tiền tệ. Theo nghiã rô ̣ng thì khủng hoảng tiề n tê ̣ là hiê ̣n tươ ̣ng biế n đô ̣ng tỷ giá hố i đoái vươ ̣t quá pha ̣m vi ̣m à một quốc gia có thể gánh chịu.
Khủng hoảng ngân hàng là trạng thái theo đó các ngân hàng lâm vào tình trạng mất khả năng thanh khoản do tiền gửi bị rút ồ ạt trong khi các khoản cho vay ra không thu hồ i đươ ̣c , dẫn đế n thu a lỗ nă ̣ng nề và bi ̣phá sản. Các ngân hàng buộc phải dừng việc thanh toán các cam kết của mình , hoă ̣c để tránh tin ̀ h z 12 trạng này , Nhà nước buộc phải can thiệp bằng biện pháp hỗ trợ đặc biệt. Khủng hoảng ngân hàng có thể bùng phát tại một ngân hàng và rất nhạy cảm , dễ dàng lan truyề n ra toàn hê ̣ thố ng. Khủng hoảng nợ nần xuấ t hiê ̣n khi khoản vay nơ ̣ của quố c gia lớn hơn khả năng trả nợ.
Có nhiều chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán nguồn vay nước ngoài của một quốc gia trong đó quan trọng nhất là chỉ tiêu “thanh toán nợ nước ngoài”, tức tỷ lê ̣ giữa nguồ n vay nước ngoài (kể cả gố c và laĩ ) mà quốc gia này phải trả trong một năm trên tổng kim ngạch xuất khẩu của quốc gia này trong năm đó hoă ̣c mô ̣t năm trước đó. Bình thường chỉ tiêu này thường nằm dưới 20% nế u vươ ̣t quá 20% chứng tỏ lươ ̣ng vố n vay nước ngoài của quố c gia đó đã quá lớn và khủng hoảng nơ ̣ nầ n đã xảy ra. Sự suy g iảm của thị trường chứng khoán (TTCK) là hiện tượng mất giá đồ ng tiề n của các cổ phiế u đang giao dich ̣ trên TTCK. Nó xảy ra khi các thông tin về sản xuấ t kinh doanh của các công ty niêm yế t không tố t , do sự biế n đô ̣ng về chin ́ h tri ̣của đấ t nước và thế giới , do thiên tai… , do tâm lý nhà đầ u tư hoảng loạn dẫn đến việc rút tiền ồ ạt ra khỏi thị trường này.
Vì vậy , người mua cổ phiế u ngày càng it́ , người bán ngày càng nhiề u , cung lớn hơn cầ u dẫ n đế n cổ phiế u bi ̣giảm giá đồ ng loa ̣t , xảy ra tình trạng “sập sàn”. Mố i liên hê ̣ giƣ̃a khủng hoảng ngân hàng và khủng hoảng tiền tê ̣ : Suy cho cùng thì khủng hoảng ngân hàng và khủng hoảng tiề n tê ̣ có mố i quan hê ̣ rấ t chă ̣t chẽ vì đều liên quan đến tính ổn định giá trị của đồng tiền của mỗi quốc gia , và cùng xuất hiện khi cam kết của Chính phủ , của NHTW hỗ trợ ổn định giá trị đồ ng tiề n , lạm phát trong nước không còn đáng tin cậy. Mô ̣t khi sự hỗ trơ ̣ của Chính phủ mất đi hoặc tạm ngừng thì kế hoạch ổn định tỷ giá sụp đổ , ngân hàng sẽ mất khả năng thanh toán. Gầ n 80 năm sau cuô ̣c Đa ̣i khủng hoảng 1929, ngày nay thế giới lại đang phải đối mặt với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.
Nhiề u chuyên gia cho rằ ng có nhiề u điể m tương đồ ng giữa hai cuô ̣c khủng hoảng toàn cầ u này. Có lẽ, z 13 đây cũng là thời điể m thích hơ ̣p để điể m qua mô ̣t số cuô ̣c khủng hoảng trên thế giới, để học được những bài ho ̣c kinh nghiê ̣m trong quá khứ. Khủng hoảng tài chính tiền tệ Mỹ 2007 – 2009 và tác động của cuộc khủng hoảng Hê ̣ thố ng tài chính thế giới bấ t ổ n. Những diễn biế n phức ta ̣p trên thi ̣ trường tài chin ́ h thế giới ngày càn g gia tăng.
Hê ̣ thố ng tài chiń h chứng kiế n sự đổ vỡ hàng loa ̣t mô ̣t cách đáng kinh nga ̣c và chưa có tiề n lê ̣ với số lươ ̣ng các đinh ̣ chế tài chin ́ h bi ̣đổ vỡ , sáp nhập , giải thể hoặc quốc hữu hóa tăng nhanh chóng. Các vụ lừ a đảo tài chiń h ta ̣i các công ty chứng khoán , các doanh nghiệp hàng đầu thế giới… bị phanh phui. Tấ t cả làm cho lòng tin vào thi ̣trường tài chính thế giới bị lung lay và suy giảm nghiêm trọng. Khởi đầ u của cuô ̣c khủng hoảng tà i chính toàn cầ u là sự đổ vỡ thi ̣trường tín dụng dưới chuẩn của Mỹ vào tháng 7/2007.
Năm 2007 có 3 ngân hàng ta ̣i Mỹ sụp đổ, đến 2008 con số này đã là 25 và gần hết nửa đầu năm 2009, hơn 40 ngân hàng tiế p tu ̣c “ra đi”. Đặc biê ̣t, sự su ̣p đổ , điêu đứng… của các tên tuổ i lớn như Lehman Brothers , Washington Mutual Inc… hay AIG , Fannie Mae, Freddie Mac, Northern Rock… khiế n cả thế giới chao đảo theo .