Chương I và Chương II Quy chế KCN, KCX, khu công nghệ cao, ban hành kèm theo Nghị định số 36-NĐ/CP, ngày 24 tháng 4 năm 1997 của Chính phủ. Theo đó, KCN được xác định “là khu tập trung các doanh nghiệp công nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; do Chính phủ 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập, trong KCN có thể có doanh nghiệp chế xuất” [4]. Qua thực tiễn hơn 15 năm phát triển các KCN ở Việt Nam, có thể nhận thấy KCN là một loại hình kinh tế đặc biệt, có tính đặc thù là sử dụng nhiều đất đai, thời gian tồn tại lâu dài (50 năm), có ảnh hưởng sâu rộng đến KT - XH và đặc biệt là môi trường. Vấn đề xây dựng các KCN thân thiện với môi trường, phục vụ phát triển KT - XH một cách bền vững đang trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
Điều đáng chú ý là, gần đây trên thế giới đã xuất hiện thuyết sinh thái công nghiệp, và nhiều nước đã coi trọng, áp dụng. Trong KCN sinh thái, cơ sở hạ tầng công nghiệp được thiết kế sao cho chúng có thể tạo thành một chuỗi những hệ sinh thái, hòa hợp với hệ sinh thái tự nhiên trên tiểu vùng địa lý, và rộng hơn là trên toàn lãnh thổ của một nước. Mục đích của KCN sinh thái là nhằm xây dựng một hệ công nghiệp, gồm nhiều nhà máy hoạt động độc lập, nhưng kết hợp với nhau một cách tự nguyện, hình thành quan hệ cộng sinh giữa các nhà máy với nhau và với môi trường. Như vậy, các nhà máy trong KCN sinh thái cố gắng đạt được những lợi ích kinh tế và hiệu quả bảo vệ môi trường chung, thông qua việc quản lý hiệu quả nguồn năng lượng, nước và nguyên liệu sử dụng [8].
Trên đây là khái niệm về KCN mang tính truyền thống, cũng như các quan niệm mới về KCN trong thời gian gần đây. Từ việc nghiên cứu và tham khảo các tài liệu trong nước và của nước ngoài, có thể đi đến một khái niệm mang tính tổng quát về KCN, phù hợp với điều kiện của Việt Nam: Khu công nghiệp là khu tập trung các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp, phục vụ cho tiêu dùng trong nước, xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ thành lập, được hưởng những ưu đãi thích hợp về sản xuất, xuất khẩu hàng hóa, có cơ sở hạ tầng thuận lợi đảm bảo phục vụ cho việc sản xuất và cung cấp các dịch vụ liên quan, bảo đảm sự phát triển bền vững. Những tiêu chí cơ bản của một khu công nghiệp trong nền kinh tế thị trường hiện đại 1. Quy hoạch, lựa chọn địa điểm xây dựng, phát triển các khu công nghiệp 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Việc quy hoạch, lựa chọn địa điểm, quy mô và phân kỳ sử dụng đất KCN là những nội dung rất quan trọng, có tác động trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả hoạt động của KCN.
Kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy, việc xác định vị trí của KCN cần gắn với thị trường tiêu thụ, thị trường cung ứng nguyên vật liệu, đáp ứng các dịch vụ phục vụ sản xuất và đời sống, có thị trường cung ứng vốn, nguồn nhân lực, chuyển giao công nghệ. Nguyên tắc tối ưu để xây dựng KCN là phải ở gần sân bay, bến cảng, các trục giao thông chính. Trong các yếu tố này, vị trí của cảng biển là quan trọng nhất, nhằm giảm chi phí vận chuyển, giảm mạnh giá thành của các hàng hóa, nguyên liệu xuất nhập khẩu, tạo ra lợi thế cạnh tranh. Đồng thời các cầu cảng, sân bay, trục giao thông phải nằm trên địa điểm thuận lợi, nối liền với các trung tâm dân cư và kinh tế quan trọng của đất nước, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiêu thụ sản phẩm, cung cấp các dịch vụ phục vụ trực tiếp cho sản xuất.
Đối với các nhà đầu tư, tính hợp lý về địa điểm xây dựng KCN là yếu tố quan trọng hàng đầu mà họ quan tâm trước khi đi đến các quyết định đầu tư. Hiện nay, để tăng sức cạnh tranh và hạ giá thành sản phẩm, hầu hết các nhà sản xuất và lắp ráp các sản phẩm hoàn chỉnh đều áp dụng phương pháp tồn kho JIT (Just in time). Do đó, nếu các nhà máy sản xuất linh kiện và bán thành phẩm không được đặt tại các vị trí thuận lợi, thì khó có thể nhận được những đơn đặt hàng lớn, từ đó ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất, kinh doanh. Đồng thời, khoảng cách giữa các KCN và thị trường tiêu thụ hàng hóa, nguồn cung cấp nguyên vật liệu cho sản xuất còn là nhân tố quyết định thời gian và chi phí vận chuyển, do đó ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành sản phẩm, ảnh hưởng tới sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường nội địa cũng như trên thị trường thế giới.
Tuy nhiên, đối với tình hình điều kiện của Việt Nam, vị trí của KCN còn tùy thuộc vào tính chất sản xuất, kinh doanh, cơ cấu sản xuất của mỗi KCN, để lựa chọn địa điểm xây dựng thích hợp. Tuy nhiên, việc lựa chọn địa điểm cho các KCN lại phải đặt trong mối quan hệ với việc giữ các vùng đất tốt phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, kết hợp với yêu cầu xây dựng nông thôn mới, với an ninh - quốc phòng. Xuất phát từ những yêu cầu trên, địa điểm xây dựng các KCN đều phải được lựa chọn trên cơ sở quy hoạch tổng thể về phát triển KT - XH của các địa phương, vùng lãnh thổ, gắn mục đích phát triển kinh tế của địa phương với chuỗi liên kết kinh tế, không chỉ trong phạm vi trong nước và còn phải đặt trong mối quan hệ với 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com việc mở rộng quan hệ thương mại ra thế giới. Từ đó, Nhà nước và chính quyền các địa phương phải có những đầu tư thích đáng để phát triển hạ tầng kỹ thuật bên ngoài hàng rào KCN, những công trình có nhu cầu đầu tư vốn lớn, mà chỉ Nhà nước mới có thể thực hiện được, nhằm tạo tiền đề thuận lợi cho các doanh nghiệp nghiên cứu khả thi, quyết định địa điểm đầu tư, xây dựng cơ sở sản xuất kinh doanh tại các KCN đã được quy hoạch.
Cơ sở hạ tầng khu công nghiệp a) Cơ sở hạ tầng kỹ thuật Cơ sở hạ tầng KCN bao gồm cơ sở hạ tầng kỹ thuật và cơ sở hạ tầng xã hội; trong đó kết cấu hạ tầng kỹ thuật là thành phần quan trọng nhất, thúc đẩy sự phát triển và phân bổ lực lượng sản xuất, trao đổi thông tin, giao lưu văn hóa giữa KCN với các vùng trong và ngoài nước. Kết cấu hạ tầng kỹ thuật phải được đầu tư trước để làm tiền đề cho mọi hoạt động phát triển KT - XH, thu hút và sử dụng được vốn đầu tư trong và ngoài nước. Trong kết cấu hạ tầng kỹ thuật, giao thông là một bộ phận quan trọng, có vai trò đặc biệt cho phát triển vùng, phục vụ vận tải hành khách và hàng hóa. Giao thông là điều kiện, là tiền đề tiên quyết đối với việc hình thành và phát triển các hoạt động, các mối quan hệ ở trong KCN và các vùng bên ngoài.
Bên cạnh những vấn đề đã nêu, hiện tượng di chuyển lực lượng lao động từ nơi thừa đến nơi thiếu lao động là không tránh khỏi. Cùng với tác động của những hoạt động sản xuất công nghiệp, cung ứng dịch vụ cho các KCN tạo nên những áp lực về cơ sở hạ tầng cho các khu vực có KCN. Điều này đòi hỏi những nhà quy hoạch, xây dựng KCN phải có tầm nhìn dài hạn, để đảm bảo cho các KCN hoạt động có hiệu quả cao. Đối với các KCN, việc xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật là để tạo một môi trường đầu tư thuận lợi, thu hút các nhà đầu tư, giúp họ có thể nhanh chóng bắt tay vào xây dựng cơ bản, tiết kiệm thời gian và chi phí để tập trung vào hoạt động sản xuất kinh doanh.
Nếu những yếu tố thuộc về cơ sở hạ tầng kỹ thuật ngoài hàng rào KCN như hệ thống giao thông, cấp điện, cấp nước, thông tin liên lạc. không phát triển một cách đồng bộ, thì cho dù các công trình hạ tầng kỹ thuật trong hàng rào có phát triển và thuận tiện như thế nào, cũng khó hấp dẫn được các nhà đầu tư. b) Cơ sở hạ tầng xã hội, dịch vụ khu công nghiệp 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Cơ sở hạ tầng xã hội bao gồm các nhóm chức năng như hành chính, chính trị, thương nghiệp, dịch vụ các loại, văn hóa xã hội, giáo dục đào tạo, dạy nghề, các cơ sở nghỉ ngơi giải trí. Như vậy, cơ sở hạ tầng xã hội đối với các KCN liên quan trực tiếp đến điều kiện về nhà ở, các công trình y tế, văn hóa, dịch vụ công cộng, cây xanh, công viên, mặt nước.
Sự hình thành và hoạt động của các cơ sở sản xuất công nghiệp có mật độ cao tại các KCN thường tạo ra những tác động lớn đến dân cư các khu vực xung quanh; tác động đến phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật và còn là cơ sở hạ tầng xã hội của toàn khu vực. Trong quá trình công nghiệp hóa, các vùng công nghiệp có mật độ cao các cơ sở công nghiệp tập trung thường là nơi tạo ra nhiều cơ hội tìm tiếm việc làm, mang lại thu nhập cao hơn hẳn khu vực nông nghiệp và các khu vực xung quanh. Vì vậy, di dân là hiện tượng tất yếu diễn ra, đặc biệt là tại các vùng có KCN, gây nên những khó khăn cho công tác quản lý nhân khẩu, trật tự, an ninh và những vấn đề xã hội khác. Mặt khác, tuy lựa chọn được công việc có thu nhập, nhưng do tác động của cơ chế thị trường, nguy cơ các doanh nghiệp phá sản, sa thải công nhân luôn tiềm ẩn; và điều đó sẽ gây ra những tác động tiêu cực đến trật tự an ninh xã hội, làm nảy sinh các tệ nạn xã hội.
Do vậy, những tác động do việc di dân đến các KCN phải được cân nhắc kỹ lưỡng khi quy hoạch, xây dựng các KCN. Đặc biệt, rất cần những thiết chế văn hóa và điều kiện sinh hoạt để đáp ứng nhu cầu đa dạng của người lao động trong KCN, để giải quyết tốt những vấn đề xã hội, đảm bảo cho nguồn lao động luôn được cung ứng một cách dồi dào, có chất lượng và bền vững.