CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ ĐỀ TÀI Lạm phát được đề cập đến rất nhiều trong các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm cho từng nước cụ thể. Một số nghiên cứu các ảnh hưởng của lạm phát đến nền kinh tế và phúc lợi trong khi một số khác nghiên cứu về các yếu tố quyết định lạm phát, một số nghiên cứu nhằm dự báo cho lạm phát. NCS sẽ tập trung tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài, như: lạm phát, các yếu tố ảnh hưởng đến lạm phát, các yếu tố hội nhập KTQT ảnh hưởng đến lạm phát và các nghiên cứu về dự báo lạm phát.1 Các nghiên cứu về lạm phát Các nghiên cứu trong nước trong thời gian qua cũng khá tập trung về các vấn đề của lạm phát, có thể kể đến đó là: - Nghiên cứu của Đặng Văn Thanh (2000), về “Những giải pháp kiểm soát và kiềm chế lạm phát ở Việt Nam”, Hội thảo về Lạm phát, Giảm phát và Tăng trưởng kinh tế, Đại học Kinh tế quốc dân, 2000; - Nghiên cứu của Ngô Trí Long (2000), Giá cả thị trường năm 1999 và 9 tháng đầu năm 2000: Thực trạng, nguyên nhân và những giải pháp ổn định, Hội thảo về Lạm phát, Giảm phát và Tăng trưởng kinh tế, Đại học Kinh tế quốc dân. Các nghiên cứu này nhìn chung đã đề cập khá trực diện vấn đề phải kiểm soát lạm phát và giá cả ở Việt Nam, tuy nhiên mới chỉ dừng lại ở việc đánh giá định tính, dựa trên các số liệu có sẵn.
- Các nghiên cứu khác cũng khá công phu về lạm phát có thể kể đến là nghiên cứu của Nguyễn Cao Đức (2006), Các yếu tố quyết định lạm phát ở Việt Nam dựa trên cách tiếp cận tiền tệ, Nghiên cứu Nguyễn Đại Lai (2000), đề xuất chiến lược phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam giai đoạn 2001 đến 2010 và vấn đề kiểm soát lạm phát trong mối quan hệ với các chỉ tiêu kinh tế luan an 12 vĩ mô ở Việt Nam, trong Hội thảo về Lạm phát, Giảm phát và Tăng trưởng kinh tế, Trường Đại học Kinh tế quốc dân. - Một tác giả có rất nhiều nghiên cứu có giá trị về lạm phát đó là Nguyễn Văn Công (2001), Xử lý lạm phát nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam giai đoạn 2001-2005, Đề tài cấp bộ, Mã số: B2000 -38 - 65, hay Nguyễn Văn Công (2005), Nhận diện lạm phát ở Việt Nam năm 2004, Tạp chí Tài chính, hay Nguyễn Văn Công (2005), Bàn về tỉ lệ lạm phát tối ưu ở Việt Nam, Tạp chí Tài chính. Về các nghiên cứu ở nước ngoài, có thể nói rất nhiều tài liệu và các nghiên cứu ngoài nước về các yếu tốảnh hưởng đến lạm phát, ảnh hưởngcủa lạm phát lên tăng trưởng kinh tế. Có thể kể ra một số nghiên cứu chính rất nổi tiếng như nghiên cứu của: - Bruno, M.
(1995) Inflation, Growth and Monetary Control: Non- linear Lessons from Crisis and Recovery, Cambridge, Mass, Mit Press, - Nghiên cứu của Commander, S. (1991) Managing inflation in Social Economies in Transition, Economic Development Institute of the World Bank đánh giá về các nền kinh tế xã hội chủ nghĩa trong quá trình chuyển đổi. - Nghiên cứu về kinh nghiệm lạm phát từ 6 nước đang phát triển của Dhakal, D. Hoặc, các bài viết kinh điển về lạm phát của chuyên gia lạm phát thế giới Friedman, M.
(1970) ‘The Counter-Revolution in Monetary Theory’, Institute of Economic Affair, Accasioanl Paper, No. 33, hay viết về vấn đề lạm phát và tăng trưởng cách thức giải quyết hài hòa của nhóm tác giả Ghosh, A. Phillips (1998) ’Warning: Inflation May Be Harmful to Your Growth', IMF Staff Paper, Vol. luan an 13 Tác giả Khan, M.
Senhaji (2000) 'Threshold Effects in the Relationship between Inflation and Growth', IMF Working Paper, Vol. 110 đã đưa ra mức ngưỡng cho mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế. Nhìn chung các nghiên cứu thường tập trung nghiên cứu các nước ở tầm vĩ mô, theo nhóm hoặc theo khối, hầu như không có nghiên cứu nào tập trung vào Việt Nam đặc biết quá trình hội nhập với các yếu tốhội nhập như dòng vốn, tỷ giá, nhập khẩu ảnh hưởng đến lạm phát. Tóm lại, các nghiên cứu trong và ngoài nước có thể lý giải và đưa ra những nguyên nhân khác nhau của lạm phát dựa trên các đánh giá và tổng kết của họ, tuy nhiên nguyên nhân lạm phát có thể đánh giá trên góc độ ngắn hạn đó là trên quan điểm tổng cung, tổng cầu dưới ba nguyên nhân cơ bản là cầu kéo, chi phí đẩy và kỳ vọng.
Tuy nhiên góc độ dài hạn, đặc biệt nghiên cứu trong thời gian dài, với các yếu tố hội nhập đặc biệt khi Việt Nam gia nhập WTO là hầu như chưa có nghiên cứu nào đề cập đến. Tuy vậy, các nghiên cứu trên thế giới cả định tính và định lượng đều là những gợi ý rất tốt cho việc nghiên cứu đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến kiềm chế và kiểm soát lạm phát ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.2 Các nghiên cứu về những yếu tố ảnh hưởng đến lạm phát Trước tiên, để thảo luận về các yếu tố quyết định lạm phát cần nhắc đến các ý tưởng và các mô hình kinh điển được xây dựng bởi các nhà kinh tế nổi tiếng. Lý thuyết về làm phát hiện nay chủ yếu dựa trên mô hình đường Phillips do Phillips (1958) và Liipsey (1950) phát hiện dựa trên giả định rằng tỷ lệ thất nghiện và tỷ lệ lạm phát có một mối quan hệ ổn định và tỷ lệ nghịch. Friedman (1960) và Phelps (1967) sau đó đã bổ sung vai trò của kỳ vọng (thích ứng) về lạm phát vào mô hình và phân biệt giữa đường Phillips ngắn hạn và đường Phillips dài hạn.
Tuy nhiên, trong những năm 1970, các kết quả thực nghiệm lại không ủng hộ mô hình đường Phillips và Sargent luan an 14 (1971) và Lucas (1972) đã lên tiếng chỉ trích mô hình đường Phillips. Họ cho rằng không có sự đánh đổi hệ thống giữa lạm phát và thất nghiệp. Sau đó, dựa trên một loạt những phê phán, đường Phillips đã liên tục được chỉnh sửa bởi Fischer (1977) và Taylor (1979), những người đã đưa sự cứng nhắc danh nghĩa vào mô hình, Calvos (1983) người đã mô hình hóa việc điều chỉnh giá ngẫu nhiên và Gali và Gertler (1999) những người đã đưa lao động vào mô hình. Kết quả của những điều chỉnh liên tiếp này là đường Phillips mới New-Keynesian Phillips Curve (NKPC) đã được xây dựng với các đặc điểm về kỳ vọng nghĩa là lạm phát được quyết định bởi các yếu tố kỳ vọng trong tương lai.
Tuy nhiên, NKPC đã lại phải điều chỉnh lại khi một loạt các bằng chứng đáng tin cậy cho thấy rằng tỷ lệ lạm phát hiện tại còn phụ thuộc vào các tỷ lệ lạm phát trong quá khứ. Woodford (2003), Christiano và cộng sự (2005) là những nghiên cứu đưa các giá trị quá khứ của lạm phát vào mô hình đường Phillips. Mô hình NKPC lại bao gồm cả những đặc điểm kỳ vọng tương lại và những giá trị quá khứ của lạm phát và cả một biến đo lường áp lực của lạm phát do tồn tại dư cầu trong hệ thống. Trái nghịch với quan điểm của trường phái Keynes rằng kinh tế thực rất không ổn định và việc quản lý cung tiền hầu như không có ảnh hưởng đến nền kinh tế thực, trường phái tiền tệ cho rằng nền kinh tế thực là khá ổn định nhưng có thể bị bất ổn do những biến động trong cung tiền và vì vậy chính sách tiền tệ có ý nghĩa quan trọng.
Họ lý luận rằng, sự gia tăng không tính toán trước của cung tiền sẽ làm tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn so với dự đoán dẫn đến giảm tỷ lệ thất nghiệp (quy luật Okun), do đó làm tăng lạm phát thông qua đường Phillips. Sự gia tăng không tính toán trước của cung tiền có thể do việc in tiền quá mức nhằm tài trợ ngân sách hoặc cho khu vực tư nhân vay quá mức. luan an 15 Tất cả các mô hình dựa trên ba cách tiếp cận trên đều đã được sử dụng, kiểm nghiệm và phê phán rất nhiều trong những nghiên cứu sau đó. Cách tiếp cận PPP bị phê phán là quá giản đơn, bỏ qua chi phí giao dịch (chi phí vận chuyển và những chi phí do các rào cản thương mại và phi thương mại tạo nên), bỏ qua khu vực kinh tế phi thương mại và áp dụng một phương pháp chỉ số giá chung cho tất cả các nước.
Các bằng chứng xác định lý thuyết PPP ở các nước đang phát triển là không đồng nhất với lý thuyết này, đúng hơn ở những nước gần nhau hơn về địa lý và có mối quan hệ thương mại chặt chẽ hơn, hoặc ở những nước lạm phát cao với tóc độ phá giá nhanh (Akinboade và cộng sự, 2004). Cách tiếp cận của các nhà kinh tế học tiền tệ bị phê phán là không tính đến tính chất cứng nhắc về cơ cấu và các cú sốc thực tế (các yếu tố chi phí đẩy), trong khi những yếu tố này đã được chứng minh là đóng vai trò quan trọng ở các nướcđang phát triển vởi các nhà kinh tế học cơ cấu. Bản thân phương pháp tiếp cận của các nhà kinh tế học cơ cấu lại bị phê phán là thiếu nhiều yếu tố về mặt cầu đã được các nhà kinh tế học tiền tệ đưa ra. Do đó, đã có nhiều nỗ lực nhằm khắc phục những điểm bị chỉ trích trong cách tiếp cận kể trên.
Một nghiên cứu điển hình gần đây về các yếu tố quyết định lạm phát trong một nền kinh tế nhỏ và mở thường sử dụng cả ba cách tiếp cận. Ví dụ, Chhibber (1991), đã xây dựng mô hình lạm phát và bình quân gia quyền của lạm phát của hàng hóa thương mại, lạm phát của hàng hóa phi thương mại và lạm phát của các hàng hóa bị kiểm soát và áp dụng nó cho một loạt các nước Châu Phi. Lạm phát hàng hóa thương mại được mô phỏng theo cách tiếp cận PPP. Lạm phát hành hóa phi thương mại được mô phỏng dựa trên các yếu tố chi phí đẩy và cầu kéo của lạm phát.
Bên cạnh đó, Akinboade và cộng sự (2004) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa lạm phát với thị trường tiền tệ, thị trường lao động và thị trường ngoại hối ở Nam Phi. Các tác giả này chỉ ra rằng, sư gia tăng của chi phí lao động luan an 16 và cung tiền mở rộng có ảnh hưởng làm tăng lạm phát và tỷ giá hiện hữu có ảnh hưởng ngược chiều đến lạm phát trong ngắn hạn. Trong dài hạn, kết quả cũng chỉ ra rằng lạm phát tỷ lệ nghịch với lãi xuất và tỷ lệ thuận với cung tiền mở rộng.