Chương 1 rs DAT VAN DE 1.1 Sự cần thiết của dé tài. Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập thị trường thế giới (AFTA và WTO), ngoài ra nước ta cũng đã ký các hiệp định song phương với một số nước khác. Trong bối cảnh ấy, Việt Nam vừa có cơ hội, vừa phải đối mặt với các thách thức. Cơ hội mở rộng và phát triển cho ngành nông nghiệp nói chung, ngành chăn nuôi nói riêng nếu có giá thành cạnh tranh để cung cấp các sản phẩm không những cho thị trường trong nước mà còn xuất khẩu.
Thách thức là phải đối mặt với các đối thủ cạnh tranh ngay tại thị trường nội địa, khi tình hình dịch bệnh cúm gia cầm (CGC) đang xảy ra. Trong các năm qua, đóng góp của chăn nuôi vào giá trị sản xuất nông nghiệp không ngừng tăng, chiếm 17,9% năm 1990, và tăng lên 22% năm 2004 (Viện chăn nuôi Việt Nam. Tuy có tốc độ phát triển tương đối cao như vậy, nhưng chăn nuôi Việt Nam đo quy mô sản xuất còn nhỏ lẻ, phân tán, mức độ ứng dụng các công nghệ tiên tiến còn thấp, nên năng suất và chất lượng sản phẩm chưa cao, mà giá thức ăn chăn nuôi lại cao. Tất cả các yếu tố đó làm cho giá thành của hầu hết các sản phẩm chăn nuôi nước ta còn cao hơn các sản phẩm cùng loại của một số nước, khó cạnh tranh với các đối thủ nước ngoài khi hàng rào thuế quan dan dẫn bị gở bỏ.
Thế kỷ XXI, bắt đầu bằng dịch SARS và năm 2004 ~ 2005 là dịch cúm gia cầm type A H5N1. Trong tương lai, chắc chắn thế giới sẽ phải đối mặt với nhiều dịch bệnh khác mà các căn nguyên dịch bệnh từ động vật sang người trở thành một tâm điểm đáng phải chú ý. Hoàng Huy Long (Nguyên Viện trưởng Viện Vệ sinh dịch tế Trung Ương), khoảng 5-10 năm trước phân type của virus cứm là H3N1, HINI, H3N2. nhưng tới năm 2004 phân type lại là H5N1.
Một và năm tới chủng virus nay tiếp tục biến đổi là điều hoàn toàn có thể xảy ra. Như vậy, khi chưa kịp tìm ra vaccin để phòng chủng virus này thì con người lại phải đối mặt với một chủng virus khác có 1.2 Mục đích - Nội dung. Thị Xã Tân An (TXTA) là một trong những nơi có mức độ thiệt hại lớn trong dịch CGC xảy ra tại Long An. Dịch CGC đã ảnh hưởng lớn đến kinh tế - đời sống của người chăn nuôi.
Vì thế, nghiên cứu của dé tài được tiến hành dưới dạng một đánh giá nhanh để thu thập dif liệu và phân tích về tác động kinh tế — xã hội của cả 2 đợt dịch CGC đối với người chăn nuôi gia cầm trên địa bàn TXTA. Từ những khảo sát hiện trạng thực tế này để có những nhận định chính thức về những khó khăn, hạn chế trong chăn nuôi của người dân, trên cơ sở đó để xuất những định hướng và giải pháp cho giai đoạn sắp đến. Để tài nhằm nêu lên các vấn dé sau đây: - Khảo sát tình hình chăn nuôi gia cầm trên vùng nghiên cứu, đánh giá tổn thất về kinh tế và tìm hiểu chi phí phục hồi của người chăn nuôi, của Nhà nước. - Khảo sát tình hình diễn biến của dịch bệnh và công tác phòng chống.
- Khảo sát những thuận lợi và khó khăn trong chăn nuôi gia cầm vào thời điểm có dịch cúm bùng phát. - Nghiên cứu khả năng cải tiến nghề nuôi, mô hình nuôi mới thích hợp ở địa phương. - Khảo sát nhận thức và sự chuẩn bị của người dân trước các thiên tai. Phạm vỉ nghiên cứu.
Giới hạn không gian. Đề tài được thực hiện trên toàn bộ10 phường, xã tại thị xã Tân An — Long An có gia cầm bị nhiễm dich trong cả 2 đợt dich CGC cuối năm 2003 và cuối năm 2004. Giới hạn thời gian thực hiện đề tài. Thời gian thực hiện để tài gồm các giai đoạn sau: - Thời gian điển bù từ 17/01/2004 - 01/02/2005.
- Thời gian điều tra : từ 03/03/2005- 12/05/2005. - Thời gian xử lý và tổng kết số liệu: 13/05/2005. Chưởơng 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN, CƠ SỞ THỰC TIEN VÀ PHƯƠNG PHAP NGHIÊN CỨU 2.1 Tầm quan trong của nông hộ và kinh tế nông hộ. Chúng ta biết rằng, nghiên cứu kinh tế nông thôn là nghiên cứu mọi hoạt động, sản xuất kinh tế diễn ra ở nông thôn như sản xuất nông nghiệp, sản xuất công nghiệp và các dịch vụ trong lĩnh vực nông nghiệp.
Hoạt động kinh tế ở nông thôn rất đa dạng và phong phú gắn với nhiều thành phần kinh tế: kinh tế nông hộ, kinh tế trang trại, kinh tế quốc doanh, kinh tế hợp tác. Thực tế hiện nay ở nước ta, kinh tế nông thôn chiếm ưu thế về tỷ trọng và quy mô đóng góp sản phẩm cho xã hội nông thôn nói riêng và cho nhu cầu toàn xã hội nói chung. Từ hoàn cảnh thực tế nước ta và kinh nghiệm ở một số nước trên thế giới cho thấy, để phát triển nông thôn nước ta cần quan tâm trước tiên đến phát triển kinh tế nông thôn mà đặc biệt chú trọng kinh tế nông hộ.1 Vai trò của nông hộ. Trong nén kinh tế chủ yếu là nông nghiệp như nước ta thì hộ nông dân là đối tượng nghiên cứu chính mà hầu hết các nhà nghiên cứu nông nghiệp, nông thôn và xã hội học nông thôn quan tâm.
Họ tiếp cận nông dân, nông thôn với nhiều khía cạnh khác nhau nhưng cùng mục dich vì sự phat triển của nông thôn và nâng cao chất lượng cuộc sống ở nông thôn. Rất nhiễu định nghĩa xoay quanh hộ nông dân, song về cơ bản đều thống nhất rằng: “Hộ nông dân là don vị kinh tế cơ sở và ẩược xã hội thừa nhận” san xuất nông nghiệp tại nông thôn. Thật vậy, hộ nông dân đích thực là tế bào cơ sở của nền kinh tế nông nghiệp, nông thôn và cũng là tế bào cơ sở của nền kinh tế quốc dân.2 Vai trò kinh tế nông hộ. Kinh tế hộ là mô hình kinh tế phổ biến và chiếm tỷ trọng lớn trong sản xuất nông — lâm — ngư nghiệp.
Ở nông thôn, nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong giải quyết nhu cầu lương thực, thực phẩm cho cả nước, đảm bảo an toàn lương thực cho quốc gia, cho dự trữ xuất khẩu. Hơn thế nữa, hộ nông dân và xã hội nông thôn còn là nguồn cung cấp lao động déi dao để phát triển các ngành nghề ở nông thôn nói riêng và đáp ứng nhu cầu cung cấp lao động cho các ngành công nghiệp, dịch vụ để góp phần phát triển nông thôn và phát triển đất nước theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nông thôn còn là thị trường tiêu thụ sản phẩm quan trọng vì dân cư với tỷ trọng khá cao trên 70% so với tổng dân số cả nước. Kinh tế hộ thường có qui mô sản xuất không lớn, đã tận dụng khá tốt điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và các nguồn lợi khác để phát triển sản xuất.
Trong canh tác đã năng động tiếp thu và ứng dụng các tiến bộ khoa học — kỹ thuật vào sản xuất, đã từng bước vươn lên thích nghi với sản xuất nông nghiệp theo cơ chế thị trường. Song do qui mô sản xuất nhỏ, lại thiếu liên kết hợp tác sản xuất nên qui mô sản xuất hàng hóa không đủ lớn, thiếu tính déng đều về năng suất và chất lượng hang hóa nên khả năng cạnh tranh có hạn. Tình trạng nghèo đói ở nông thôn còn chiếm tỷ lệ khá cao trên 20% và mức độ nghèo đói cũng khác nhau, chẳng hạn thiếu ăn trong thời gian giáp hạt, thiếu ăn 3 tháng, thiếu ăn 4-5 tháng và trên nữa năm. Vì thế, chúng ta rất cần có những chủ trương chính sách phù hợp của Nhà nước để tạo công ăn việc làm, có những mô hình kinh tế hợp tác phù hợp đủ sức lối cuốn các hộ nông dân tự nguyện tham gia,.
nhằm hướng đến mục tiêu chung của cá nước vì “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh”.2 Vai trò và tầm quan trọng của ngành chăn nuôi gia cầm đối với nông hộ. ` Ở nước ta thống kê hàng năm có 100 -110 triệu gia cầm (Cục Nông nghiệp và Hiệp hội Chăn nuôi gia cầm Việt Nam, 2005), trong đó chăn nuôi theo qui mô đàn gia cầm gia đình ở nông thôn là chủ yếu, ở thành phố, khu công nghiệp tỉ lệ nuôi gia cầm gia đình rất ít. Tùy theo điều kiện sinh thái từng vùng miễn núi, trung du, đồng bằng mà số lượng gia cầm ở gia đình nhiều hay ít khác nhau và đều chăn nuôi theo phương pháp chăn thả tự tìm kiếm thức ăn kết hợp cho ăn thêm ngũ cốc. Nơi có điều kiện vườn nhà rộng và tập quán chăn nuôi nhất là miễn núi và trung du nhiều gia đình nuôi chỉ vài chục con.
Ở đồng bằng thường mỗi gia đình nuôi 5-10 gà mái dé (vịt dé) và một vài chục ga/vit con, gà dò. Tuy nhiên, cũng khá nhiều gia đình kinh doanh gia cầm số lượng hàng trăm, hàng nghìn con, khoanh vùng rộng ở vườn có chuồng nuôi vừa nhốt vừa thả cho ăn thức ăn được pha trộn, hoặc nuôi hoàn toàn theo phương thức công nghiệp với vốn đầu tư chăn nuôi lớn, chuồng trại xây kiên cố: gà được nhốt chuồng nền, chuồng lỗng, cho ăn uống đầy đủ đáp ứng nhu cầu dinh dung theo tuổi, theo năng suất sản phẩm, được tiêm phòng bệnh theo định kỳ các loại bệnh, chuồng trại thích hợp. Có vùng, nhất là các cánh đồng lúa, nông dân chăn nuôi vịt ra đổng chăn thả sau các vụ thu hoạch (vịt chạy đồng). Trong những năm qua, ngành chăn nuôi gia cầm cả nước có những thuận lợi rất cơ bản, Chính phủ cũng đã ban hành nhiễu chủ trương, chính sách thiết thực nhằm phát triển ngành nghề này.
Bên cạnh đó, ý thức của người dân đã và đang hướng đến chăn nuôi như một ngành kinh tế không chỉ là xóa đói giảm nghèo mà là làm kinh tế, hướng đến làm giàu. Đây là mục tiêu để chăn nuôi gia cầm phát triển. So sánh số liệu đầu năm 2003 với năm 2000, cho thấy, trên cả nước, chăn nuôi một số loại gia súc, gia cầm có tốc độ tăng như: đàn bò tăng 2,42% (trong đó: dan bò sữa tăng gấp 2 lần, sản lượng sữa tươi tăng 2,34 lân); đàn heo tăng 21,8%; dan gia cầm tăng 30,6%; sản lượng thịt hơi các loại tăng 30%.2 Cơ sở thực tiễn.1 Thực trạng ngành chăn nuôi gia cầm ở Việt Nam. Trong quá trình đổi mới từ năm 1996 đến nay, chăn nuôi gia cầm đã có bước phát triển nhanh.