Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 1. Cơ sở lý luận về tác động của đầu tư đến tăng trưởng kinh tế 1. Cơ sở lý luận về đầu tư 1. Khái niệm đầu tư Theo ngân hàng thế giới: Đầu tư là sự bỏ vốn trong một thời gian dài theo một lĩnh vực nhất định (như thăm dò, khai thác, chế biến, sản xuất kinh doanh, dịch vụ.) và đưa vốn vào hoạt động của doanh nghiệp tương lai trong nhiều chu kỳ kế tiếp nhằm thu hồi vốn và có lợi nhuận cho nhà đầu tư và lợi ích kinh tế xã hội cho đất nước được đầu tư.
Theo luật đầu tư của Việt Nam năm 2005: Đầu tư là việc các nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình và vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định và các luật pháp liên quan. Trong kinh tế học vĩ mô, đầu tư chỉ việc gia tăng tư bản nhằm tăng cường năng lực sản xuất tương lai. Do vậy, đầu tư còn được gọi là hình thành tư bản hoặc tích lũy tư bản. Tuy nhiên, chỉ có tăng tư bản làm tăng năng lực sản xuất vật chất mới được tính vào quá trình đầu tư.
Nguồn lực đầu tư bao gồm tiền vốn, đất đai, lao động, máy móc thiết bị, tài nguyên, khoa học công nghệ. Như vậy, đầu tư là hoạt động sử dụng các nguồn lực trong một thời gian nhất định ở hiện tại để thu được lợi nhuận kinh tế và lợi ích xã hội trong tương lai. Đặc điểm của đầu tư Hoạt động đầu tư có những đặc điểm chủ yếu sau: * Quy mô tiền vốn, vật tư, lao động cần thiết cho hoạt động đầu tư thường rất lớn. Vốn đầu tư nằm đọng khá lâu trong suốt quá trình thực hiện đầu tư.
Lao động cần sử dụng cho các dự án rất lớn, đặc biệt đối với các dự án 6 trọng điểm quốc gia. Do đó, công tác tuyển dụng, đào tạo, sử dụng và đãi ngộ cần tuân thủ một kế hoạch định trước, sao cho đáp ứng tốt nhất nhu cầu từng loại nhân lực theo tiến độ đầu tư, đồng thời, hạn chế đến mức thấp nhất những ảnh hưởng tiêu cực do vấn đề hậu dự án tạo ra như bố trí lao động, giải quyết lao động đôi dư. * Thời kỳ đầu tư kéo dài: Thời kỳ đầu tư tính từ khi khởi công thực hiện dự án đến khi dự án hoàn thành và đưa vào hoạt động. Nhiều công trình dự đầu tư có thời gian đầu tư kéo dài đến hàng chục năm.
* Thời gian vận hành các kết quả đầu tư kéo dài. Thời gian này tính từ khi đưa công trình vào hoạt động cho đến khi hết thời hạn hoạt động và đào thải công trình. Nhiều thành quả đầu tư phát huy kết quả lâu dài, có thể tồn tại vĩnh viễn như các Kim Tự Tháp Ai Cập, Nhà thờ La Mã ở Rôm, Vạn Lý Trường Thành ở Trung Quốc. Trong suốt quá trình vận hành, các thành quả đầu tư chịu sự tác động hai mặt, cả tích cực và tiêu cực của nhiều yếu tố tự nhiên, chính trị, kinh tế, xã hội.
* Các thành quả của hoạt động đầu tư mà là công trình xây dựng thường phát huy tác dụng ngay tại nơi nó được tạo dựng lên, do đó, quá trình thực hiện đầu tư cũng như thời kỳ vận hành các kết quả đầu tư chịu ảnh hưởng lớn của các nhân tố về tự nhiên, kinh tế, xã hội vùng. * Hoạt động đầu tư có tính rủi ro cao. Do quy mô vốn đầu tư lớn, thời kỳ đầu tư kéo dài và thời gian vận hành các kết quả đầu tư cũng kéo dài. nên mức độ rủi ro của hoạt động đầu tư thường cao.
Rủi ro đầu tư do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân chủ quan từ các nhà đầu tư như quản lý kém, chất lượng sản phẩm không đạt yêu cầu. có nguyên nhân khách quan như giá nguyên liệu tăng, giá bán sản phẩm giảm, công suất sản xuất không đạt công suất thiết kế. Vai trò của đầu tư đối với nền kinh tế Từ trước đến nay khi nói về đầu tư, không một nhà kinh tế học nào và không một lý thuyết kinh tế nào lại không nói đến vai trò của đầu tư đối với nền kinh tế. Có thể nói rằng đầu tư là cốt lõi là động lực cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Vai trò của đầu tư đối với tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế Đầu tư tác động mạnh tới tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế. Mức độ tác động cũng như thời gian ảnh hưởng là khác nhau. Bởi vì, xét về mặt cầu thì đầu tư tiêu thụ một khối lượng hàng hóa và dịch vụ cho nền kinh tế nhưng đứng về tổng cung thì nó làm cho sản xuất gia tăng, giá cả giảm, tạo công ăn việc làm và làm tăng thu nhập từ đó kích thích tiêu dùng. Mà sản xuất phát triển chính là nguồn gốc của sự phát triển kinh tế xã hội, là điều kiện để cải thiện đời sống con người.
Như vậy, đầu tư là nhân tố cho sự tăng trưởng và phát triển một nền kinh tế. Vai trò của đầu tư đối với sự ổn định nền kinh tế Đầu tư luôn có một độ trễ nhất định, tức là “đầu tư hôm nay, thành quả mai sau”. Ngoài ra do đầu tư có ảnh hưởng tới tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế không ăn khớp về thời gian do vậy nó có thể phá vỡ sự ổn định của một nền kinh tế. Nếu đầu tư tốt nó có thể giúp cho nền kinh tế tăng trưởng và phát triển.
Khi tăng đầu tư trong nước, khi đó làm cho nhu cầu tiêu thụ hàng hóa dịch vụ liên quan tăng theo, điều đó là tổng cầu của nền kinh tế tăng, theo quy luật cung cầu của kinh tế tăng dẫn đến giá cả hàng hóa cũng tăng lên mạnh mẽ, và đến một mức độ nào đó có thì dẫn tới lạm phát, với tỉ lệ có thể rất cao. Khi lạm phát xảy ra, giá cả tăng vọt, dẫn đến các chi phí đầu vào cho sản xuất tăng lên dẫn đến sản xuất bị đình trệ, và người lao động thất nghiệp, nền kinh tế giảm thu nhập và đời sống giảm sút. Tất cả điều đó làm cho nền kinh tế lâm vào khủng hoảng trì trệ và làm giảm tốc độ phát triển. Tuy nhiên 8 nếu các quốc gia điều tiết đầu tư thì không những khắc phục được những ảnh hưởng tiêu cực mà còn làm cho nó trở thành động lực cho sự tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Vai trò của đầu tư đối với tốc độ tăng trưởng và phát triển nền kinh tế Ta thấy rõ rằng đầu tư có ảnh hưởng đến tổng cung và tổng cầu và tác động đến sự ổn định của nền kinh tế. Như vậy, sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế sẽ chịu ảnh hương rất lớn của đầu tư. Đầu tư còn làm tăng năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, năng lực sản xuất do vậy đầu tư còn có vai trò rất lớn trong việc thay đổi tốc độ phát triển kinh tế. Vì vậy, đối với mỗi quốc gia cần có một chính sách thích hợp để huy động vốn và đầu tư có hiệu quả nhằm nâng cao tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Vai trò của đầu tư đối với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế Mỗi một quốc gia được coi là phát triển khi cơ cấu kinh tế tăng trưởng theo hướng công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp trong đó công nghiệp và dịch vụ chiếm một tỷ lệ cao trong GDP của nước đó. Bới vì nông nghiệp do nhiều hạn chế về điều kiện tự nhiên và khả năng sinh học của cây trồng vật nuôi nên chỉ có tốc độ tăng trưởng tối đa từ 5-6%. Do vậy, khi công nghiệp và dịch vụ chiếm tỷ lệ cao, nó có khả năng đưa tốc độ tăng trưởng kinh tế của nước đó lên cao 9-10%. Muốn vậy chúng ta phải chính sách đầu tư thỏa đáng.
Mỗi nước cần tăng cường tỷ lệ đầu tư cho công nghiệp và dịch vụ và có nhiều chính sách phát huy hiệu quả của đầu tư có vậy thì công nghiệp và dịch vụ phát triển. Trong nông nghiệp cũng nên đầu tư nhiều hơn cho chăn nuôi bởi chăn nuôi thường có tỷ lệ tăng trưởng mạnh hơn trồng trọt. Còn đối với cơ cầu vùng lãnh thổ một quốc gia phát triển thường có cơ cấu kinh tế lãnh thổ cân đối và đồng đều giữa các vùng trong cả nước. Do vậy bên cạnh việc đầu tư trọng điểm để phát triển thành thị và các vùng đồng bằng chúng ta cần có nhiều chính sách đầu tư phát triển kinh tế các vùng núi và 9 nông thôn để vừa phát triển kinh tế xã hội vừa tạo sự cần bằng ổn định trong khu vực.
Vai trò của đầu tư đối với khoa học kỹ thuật. Khoa học công nghệ là trung tâm của đời sống kinh tế xã hội hiện đại. Ở các nước đang phát triển, họ có mức đầu tư lớn, có quá trình phát triển lâu dài nên trình độ khoa học công nghệ của họ hơn hẳn các nước khác trên thế giới. Khi họ áp dụng các thành tựu này làm cho nền kinh tế có mức độ tăng trưởng mạnh mẽ, đời sống nhân dân nâng cao.
Còn đối với các nước đang phát triển, do công nghệ nghèo nàn, lạc hậu lại không có điều kiện để nghiên cứu phát triển khoa học kỹ thuật nên kinh tế phát triển rất thấp, sản xuất kém phát triển và bị phụ thuộc vào các nước công nghiệp. Muốn thoát khỏi tình trạng này thì các nước phải tăng cường đầu tư và tìm cách thu hút đầu tư từ bên ngoài vào trong nền kinh tế. Đầu tư ở đây được hiểu là các nước này thu hút công nghệ hiện đại bên ngoài phù hợp đồng thời tổ chức nghiên cứu để phát minh ra các công nghệ mới hiện đại. Quá trình công nghiệp hóa hiện đại của các nước này có thành công hay không thành công phụ thuộc rất nhiều vào việc đầu tư phát triển khoa học công nghệ.
Có thể khẳng định rằng đầu tư khoa học công nghệ là một chính sách cực kỳ quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội. Các yếu tố ảnh hưởng đến đầu tư a. Những yếu tố thuộc về môi trường vi mô: - Tiến bộ khoa học kỹ thuật : Các hoạt động đầu tư phải đi theo trào lưu công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế.