chương 1 của luận văn đã phác họa tổng quan các vấn đề cần giải quyết và đưa ra giải pháp cho các vấn đề đó. Xuyên suốt các phần tiếp theo đây của luận văn, tác giả sẽ từng bước đi tìm bằng chứng để trả lời cho các câu hỏi ban đầu. Cuối cùng, kết cấu của nghiên cứu này cũng được đưa ra, phân định rõ ràng từng bước đi tiếp theo để đạt được mục tiêu cuối cùng. 11 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG DANH MỤC CHO VAY ĐẾN LỢI NHUẬN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 Tổng quan danh mục cho vay của Ngân hàng thương mại 2.1 Khái niệm Khái niệm danh mục bắt đầu xuất hiện nhiều từ khi công trình nghiên cứu của Harry Markowitz về “ lý thuyết danh mục đầu tư hiệu quả” ra đời.
Harry Markowitz là một nhà toán học và một nhà kinh tế học, ông đã nghiên cứu quá trình đầu tư trong kinh tế và đề xuất lên bài toán Markowitz về tối ưu hóa danh mục đầu tư. Harry Markowitz đã mô hình hóa quá trình lựa chọn danh mục đầu tư dưới bài toán các nhà đầu tư sẽ có thêm phương hướng để lựa chọn danh mục đầu tư của mình. The Harry Markowitz, danh mục đầu tư là “tập hợp ít nhất gồm hai loại tài sản có rủi ro trở lên”. Theo nghiên cứu của Andreas Kamp (University of Munster), Andreas Pfingsten (Unversity of Munster), Danek Prath (Deutsche Bundesbank) năm 2005 thì danh mục cho vay là một khoản đầu tư vào các tài sản rủi ro mà các biến quan sát này không nhất thiết phải trực tiếp được áp dụng bởi vì ngân hàng là trung gian tài chính.
Theo financial-dictionary “ Danh mục cho vay là các khoản vay đã được thực hiện và đang chờ được chi trả. Danh mục cho vay là tài sản chủ yếu của các ngân hàng, quỹ tín dụng, và các tổ chức cho vay khác. Giá tri của danh mục cho vay không chỉ phụ thuộc vào lãi suất cho vay mà còn phụ thuộc vào giá trị và khả năng chi trả các khoản vay đó.” Theo bách khoa toàn thư Wikipedia thì danh mục (portfolio) là “ tập hợp các khoản đầu tư do cá nhân hay tổ chức nắm giữ bao gồm chứng khoán, trái phiếu, chứng chỉ vàng, bất động sản, hợp đồng tương lai, option…nhằm để giảm thiểu rủi ro trong đầu tư”. Ngân hàng TMCP là một tổ chức kinh doanh, cung ứng nhiều sản phẩm tài chính tiền tệ, vì vậy danh mục tài sản của các ngân hàng rất phong phú, nhưng với đặc thù là trung gian tín dụng, các khoản vay của ngân hàng luôn chiếm một tỷ 12 trọng lớn trên danh mục cho vay.
Tại các NHTM ở các quốc gia có thị trường tài chính kém phát triển thì lợi nhuận mang về từ hoạt động cho vay chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng lợi nhuận nhưng ngược lại tại các quốc gia có thị trường tài chính lớn mạnh thì tỷ trọng lợi nhuận từ hoạt động cho vay thấp hơn, phần còn lại là lợi nhuận từ hoạt động thu phí. Tuy tỷ trọng lợi nhuận mang về từ hoạt động cho vay tại các NHTM hiện đại không chiếm ưu thế nhưng đây là hoạt động tiềm ẩn rất nhiều rủi ro bởi ngân hàng có đòn bẩy tài chính rất cao, chỉ cần một tỷ lệ nhỏ các khoản vay không hoàn trả được thì có thể đẩy ngân hàng đến bờ vực phá sản. Chính vì thế danh mục cho vay đóng một vai trò quan trọng tại các NHTM. Thông qua các khái niệm của những nghiên cứu trước đây, có thể đưa ra khái niệm về danh mục cho vay như sau: “Danh mục cho vay là tổng hợp tất cả các khoản cho vay của ngân hàng được xây dựng tại một thời điểm nhất định.
Danh mục cho vay là tài sản chiếm tỷ trọng lớn nhất của các ngân hàng, giá trị của một danh mục cho vay không chỉ phụ thuộc vào lợi nhuận thu được của các khoản vay mà còn thể hiện ở chất lượng của các khoản vay hay chính là khả năng hoàn trả gốc và lãi của người đi vay.” Danh mục cho vay có thể hình thành một cách ngẫu nhiên hay hình thành theo kế hoạch. Danh mục cho vay ngẫu nhiên là danh mục hình thành một cách tự phát theo nhu cầu của khách hàng hay nói cách khác là bị thị trường dẫn dắt, ngân hàng ở thế bị động. Danh mục cho vay hình thành theo kế hoạch có nghĩa là một danh mục đã được định hướng với tỷ trọng các khoản vay được thiết kế ngay từ đầu. Ngân hàng chủ động hơn trong việc xét duyệt các khoản vay.2 Phân loại danh mục cho vay Theo các nghiên cứu thực nghiệm thì danh mục cho vay ở các ngân hàng trên thế giới có hai loại, đó là danh mục cho vay tập trung và danh mục cho vay được đa dạng hóa.
- Danh mục cho vay tập trung: là tổng hợp các khoản vay của ngân hàng tập trung cho một hoặc một vài ngành kinh tế. Hiện nay, tại một số quốc 13 gia các ngân hàng quyết định chuyên môn hóa hoạt động cho vay đến các lĩnh vực mà ngân hàng cho là đem lại lợi nhuận cao nhất. Điển hình như bài nghiên cứu của Benjamin M. Fazio and Daniel O, Cajueiro về tác động danh mục cho vay đến lợi nhuận và rủi ro của các ngân hàng tại Brazil năm 2010.
Danh mục cho vay của các ngân hàng tại Brazil được đánh giá là tập trung. Bài nghiên cứu đánh giá các ngân hàng nước ngoài có danh mục cho vay tập trung hơn các ngân hàng nhà nước hay ngân hàng tư nhân. Điều này được giải thích rằng các ngân hàng nước ngoài đã quen thuộc với các điều kiện kinh tế và tài chính thấp của Brazil, và do đó họ hạn chế hoạt động cho vay của mình đến một số lĩnh cực, để được hưởng lợi nhiều hơn từ việc giảm chi phí giám sát. - Danh mục cho vay đa dạng hóa: là tổng hợp các khoản vay của ngân hàng được đa dạng tại nhiều ngành kinh tế khác nhau.
Một số quốc gia có những qui định về việc hạn chế tỷ trọng cho vay của ngân hàng đến một đối tượng cho vay duy nhất, họ hướng đến việc đa dang hóa danh mục cho vay [BIS, 1991, Morris, 2001]. Có một số bài nghiên cứu cho thấy danh mục cho vay của các ngân hàng tại một số quốc gia là đa dạng hóa cao. Nghiên cứu của Pfingsten và Rudoiph (2002), hay Andreas Kamp, Danek Prath và Pfingster (2005) về danh mục cho vay của các ngân hàng tại Đức giai đoạn từ năm 1970 đến năm 2001, dựa trên 16 ngành nghề. Kết quả nghiên cứu cho thấy các ngân hàng tại Đức có xu hướng phát triển đa dạng hóa danh mục cho vay bắt đầu từ các ngân hàng tiết kiệm, ngân hàng hợp tác, sau đó lan rộng ra các ngân hàng quy mô nhỏ (ngoại trừ các ngân hàng vùng/địa phương, chi nhánh /đại lý của các ngân hàng nước ngoài).
Bên cạnh đó, Acharya (2004) nghiên cứu về danh mục cho vay của 105 ngân hàng tại Ý giai đoạn từ năm 1993 đến năm 1999 dựa trên 23 ngành nghề, hay nghiên cứu của Elyasiani và Deng (2004) tại các công ty dịch vụ tài chính ở Hoa Kỳ cũng đưa ra kết luận danh mục cho vay đều xu hướng đa dạng hóa cao. Cơ cấu cho vay của ngân hàng là tỷ trọng dư nợ cho vay từng bộ phận trong tổng dư nợ, các bộ phận này được xem xét theo nhiều tiêu chí khác nhau (theo địa 14 lý, theo kỳ hạn, mục đích, loại hình doanh nghiệp, ngành nghề, quy mô, mức rủi ro,.) các bộ phận này tạo thành cơ cấu danh mục cho vay của ngân hàng.1: Cơ cấu danh mục cho vay của Ngân hàng Thương mại Khoản mục Số tiền Tỷ trọng 1. Danh mục cho vay theo thời hạn 1.1 Cho vay ngắn hạn 1.2 Cho vay trung hạn 1.3 Cho vay dài hạn Tổng cộng 100% 2. Danh mục cho vay theo TSBĐ tiền vay 2.1 Cho vay không có TSBĐ 2.2 Cho vay có TSBĐ Tổng cộng 100% 3.
Danh mục cho vay theo lĩnh vực đầu tư 3.1 Cho vay sản xuất - Cho vay nông nghiệp - Cho vay công nghiệp - Cho vay thương mại - Cho vay giao thông vận tải ….2 Cho vay phi sản xuất - Cho vay kinh doanh chứng khoán - Cho vay kinh doanh BĐS - Cho vay tiêu dùng … Tổng cộng 100% 4. Danh mục cho vay theo loại tiền tệ 4.1 Cho vay nội tệ 4.2 Cho vay ngoại tệ Tổng cộng 100% 5. Danh mục cho vay theo đối tượng khách hàng 5.1 Doanh nghiệp sở hữu Nhà nước 5.2 Công ty TNHH & Cổ phần 5.3 Công ty 100% vốn nước ngoài 5.4 Công ty Liên doanh 5.6 Cá nhân Tổng cộng 100% 6. Danh mục cho vay theo khu vực địa lý 6.1 Khu vực miền Bắc 6.2 Khu vực miền Trung 6.3 Khu vực miền Nam Tổng cộng 100% 7.
Danh mục cho vay theo ngành kinh tế 7.1 Cho vay nông lâm nghiệp 7.2 Cho vay thương mại 7.3 Cho vay giao thông vận tải 7.4 Cho vay Xây dựng 7.5 Cho vay tiêu dùng …. Tổng cộng 100% Nguồn: Tác giả tự tổng hợp 2.1 Phân loại theo thời hạn cho vay Đối tượng cho vay của ngân hàng rất đa dạng xuất phát từ mục đích vay vốn phong phú của khách hàng. Đối tượng cho vay có thể là nhu cầu vốn lưu động thiếu hụt trong quá trình sản xuất, nhu cầu vốn để mua sắm máy móc thiết bị, xây dựng nhà xưởng… Do mỗi đối tượng cho vay có chu kỳ luân chuyển khác nhau do đó yêu cầu thời hạn cho vay khác nhau. Nhìn chung thời hạn cho vay tại NHTM thường được phân làm ba nhóm là ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.
Vay ngắn hạn: là các khoản cho vay có thời hạn đến 12 tháng. Các khoản cho vay này thường dùng để bù đắp vốn lưu động thiếu hụt của doanh nghiệp hay các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân. Vay trung hạn: là các khoản cho vay có thời hạn từ 13 đến 60 tháng. Thông thường các khoản vay trung hạn dùng để tài trợ cho nhu cầu vốn lưu động thường xuyên, mua sắm máy móc, thiết bị, xây dựng nhà xưởng của doanh nghiệp hoặc mua sắm tài sản có giá trị lớn của cá nhân.
Vay dài hạn: là các khoản cho vay có thời hạn trên 60 tháng. Đối tượng tài trợ của các khoản vay dài hạn cũng giống như các khoản vay trung hạn. 16 Phân loại danh mục cho vay theo thời hạn cấp tín dụng giúp ngân hàng quản lý được nguồn vốn để đáp ứng qua đó nhằm đảm bảo khả năng thanh toán bởi vốn dĩ ngân hàng còn phải đối mặt với rủi ro do sự chênh lệch kỳ hạn giữa tài sản có và tài sản nợ.