chương 1 nhằm mục đích tạo tiền đề cho các nghiên cứu tiếp theo liên quan đến chủ đề về thương mại thủy sản. Trần Nguyễn Yến Nhi 6 2022 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS. TS Mai Thanh Quế CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan ngành thủy sản Việt Nam Thực tế cho thấy, những năm qua ngành thủy sản đã phấn đấu phát triển từ một lĩnh vực sản xuất nhỏ, kỹ thuật đánh bắt và sản xuất thô sơ, sản lượng tiêu thụ thấp và chất lượng sản chưa cao, đã cố gắng phát triển và góp phần thiết yếu trong nền kinh tế quốc dân, đạt được tốc độ tăng trưởng hàng đầu trong khối nông, lâm, thủy sản và mang lại nguồn thu ngoại tệ lớn cho Việt Nam.
Sản lượng thủy sản của Việt Nam đã duy trì tăng trưởng tích cực từ năm 1997, với mức tăng bình quân là 9,07%/năm. Nhờ có chủ trương thúc đẩy phát triển của chính phủ, lĩnh vực thủy sản đã có những bước phát triển vững chắc, sản lượng sản xuất cũng như nuôi trồng liên tục tăng trưởng đều đặn, bình quân đạt 12,77%/năm, đóng góp lớn vào tăng trưởng tổng sản lượng thủy sản của cả nước. Về xuất khẩu, nhờ vào những nỗ lực không ngừng của nhà nước và nhân dân, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam luôn đạt được những tựu to lớn. Giá trị xuất khẩu thủy sản chiếm khoảng 4-5% GDP hàng năm của Việt Nam; chiếm 9-10% tổng kim ngạch xuất quốc gia và đứng thứ 5 về giá trị xuất khẩu (chỉ sau: điện tử, may mặc, dầu thô, giày dép).1: Sản lượng xuất khẩu thủy sản giai đoạn 1997 - 2020 Nguồn: Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam Từ 1997-2020: XK tăng gấp 11 lần, tăng trưởng trung bình hàng năm 10% từ 758 triệu USD lên 8,5 tỷ USD.
Mặc dù, năm 2020, toàn cầu phải đối mặt với tình hình dịch bệnh Covid – 19 diễn biến nghiêm trọng, sự gián chuỗi cung ứng cũng như Trần Nguyễn Yến Nhi 7 2022 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS. TS Mai Thanh Quế nhu cầu về du lịch, nhà hàng giảm mạnh khiến nhu cầu đối với thủy sản cũng giảm, nhưng giá trị xuất khẩu thủy sản của Việt Nam năm 2020 chỉ giảm nhẹ so với năm 2019. Bên cạnh đó, những năm trở lại đây, nhờ sự phát triển hoạt động xuất khẩu thủy sản, nguồn vốn bổ sung trong nền kinh tế quốc dân ngày càng được gia tăng, tạo điều kiện thuận lợi cho các lĩnh vực khác cùng phát triển, thúc đẩy sự phát triển chung của đất nước. Bên cạnh đó, ở nhiều vùng miền, chất lượng nguồn lao động vẫn chưa thực sự cao, chưa đáp ứng được nhu cầu đối với những ngành nghề kinh tế khác.
Chính vì vậy, phát triển ngành thủy sản còn giúp giải quyết vấn đề về việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Hơn thế nữa, phát huy thế mạnh của đất nước là một nền tảng cốt lõi đối với mục tiêu phát triển bền vững của quốc gia. Xuất khẩu thủy sản không những gia tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước, giải quyết vấn đề việc làm mà còn giúp đất nước xây dựng mối quan hệ giao thương tốt đẹp đối với nhiều quốc gia khác. Từ đó, Việt Nam ngày càng mở rộng được quan hệ đối với nhiều quốc gia, ký kết được nhiều HĐTM quốc tế hơn, gia tăng sản lượng xuất khẩu và đem lại được những lợi ích tích cực cho xuất khẩu nói chung.
Từ những phân tích trên, tác giả nhận thấy vai trò quan trọng của ngành thủy sản đối với sự phát triển của đất nước cũng như sự cần thiết phải đánh giá hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp ngành này bị ảnh hưởng như thế nào do sự xuất hiện của đại dịch Covid – 19. Trên thế giới và trong nước, cũng đã có rất nhiều nghiên cứu liên quan đến thương mại thủy sản. Sau đây là một số dẫn chứng về những công trình nghiên cứu cùng chủ đề. Tổng quan nghiên cứu trong nước và quốc tế Ở nhiều quốc gia trên thế giới, đặc điểm tự nhiên đã tạo ra những điều kiện thuận lợi để phát triển rộng rãi ngành thủy sản, đem lại sự đóng góp cho GDP của nền kinh tế, góp phần cải thiện và thúc đẩy thương mại, từ đó nâng cao mức sống của nhân dân cũng như giảm tỷ lệ thất nghiệp.
Chính vì vậy, nhằm đánh giá chất lượng hoạt động của ngành thủy sản, nhấn mạnh tầm quan trọng đồng thời xác định những Trần Nguyễn Yến Nhi 8 2022 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS. TS Mai Thanh Quế nhân tố ảnh hưởng đến việc nuôi trồng và XK thủy sản, rất nhiều nghiên cứu đã được thực hiện. Trên phạm vi quốc tế Marina Boboedova (2014) đã thực hiện một nghiên cứu đánh giá HQXK của các DN thủy sản ở vùng tây bắc nước Nga. Nghiên cứu này xem xét ảnh hưởng của định hướng thị trường, định hướng chiến lược và điều kiện làm việc bên ngoài đối với hoạt động xuất khẩu của các DN đánh cá ở Tây Bắc Nga, đặc biệt là ở vùng Murmansk.
Các cuộc phỏng vấn cá nhân được thực hiện với các nhà quản lý của năm công ty đánh bắt cá đã cung cấp dữ liệu để phân tích. Kết quả của cuộc nghiên cứu chỉ ra rằng các công ty đánh cá ở vùng Murmansk đã thay đổi chiến lược của họ từ tuân thủ kế hoạch sang hành vi kinh tế hợp lý. Họ đưa ra quyết định về loại sản phẩm và nơi bán dựa trên hiểu biết của họ về khách hàng và các đối thủ cạnh tranh, có tính đến điều kiện làm việc thay đổi trên thị trường trong nước và quốc tế. Richard Waite và cộng sự (2014) đã thực hiện một nghiên cứu định tính về “Nâng cao năng lực sản xuất và hiệu quả môi trường trong nuôi trồng thủy sản” nhằm đưa ra một cái nhìn tổng quan về thực trạng, thách thức và mối quan tâm về sự bền vững ngành thủy sản.
Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng thông qua những trường hợp thực tế ở một số quốc gia, từ đó đưa ra các khuyến nghị đối với việc nâng cao năng lực sản xuất và hiệu quả môi trường. Trong số các quốc gia xuất khẩu thủy sản toàn cầu, Trung Quốc luôn là nước sản xuất, chế biến, xuất khẩu thủy sản hàng đầu thế giới. Tại Trung Quốc, một số nghiên cứu liên quan đến ngành thủy sản đã được thực hiện để đánh giá hiệu quả sản xuất và xuất khẩu nhằm mục đích đề xuất một số khuyến nghị giúp cải thiện năng lực cạnh tranh và hoạt động của ngành thủy sản. Một trong số những nghiên cứu này, nổi bật có nghiên cứu của Miao Miao, Huang Liu and Jun Chen (2021) thông qua việc ứng dụng mô hình CMS mở rộng đã tìm hiểu, phân tích và đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến sự biến động trong XK sản phẩm thủy sản của Trung Quốc sang Nhật Bản, Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Đông Nam Á và EU nhằm mục đích đưa ra các giải pháp giúp tăng cường sản lượng xuất khẩu như đa dạng hóa, tối ưu hóa các thị trường XK, cải thiện quy mô cũng như chất lượng sản phẩm phù hợp hơn với nhu cầu đa dạng từ thị trường quốc tế.
Bên cạnh đó, không thể phủ nhận rằng đại dịch Covid – 19 đã đem Trần Nguyễn Yến Nhi 9 2022 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS. TS Mai Thanh Quế đến một sự suy giảm cho nền kinh tế toàn cầu, đặc biệt là đối với Trung Quốc. Một nghiên cứu về tác động của Covid – 19 đến thương mại ngành cá ở Trung Quốc đã được thực hiện bởi Yanxuedan Zhang và cộng sự (2021) nhằm xem xét những thách thức đối với ngành này thông qua việc quan sát các hoạt động XNK cá của Trung Quốc và một nghiên cứu định tính về các chính sách đang phát triển trong chín tháng đầu năm 2020. Kết quả chỉ ra rằng các biện pháp kiểm soát đối phó với sự không chắc chắn về nguồn bệnh và đường lây truyền, nhu cầu bức thiết về việc hạn chế di chuyển của người và hàng hóa, lo sợ về một đợt bùng phát thứ hai đã làm gián đoạn đáng kể hoạt động buôn bán cá.
Để đáp ứng những thách thức này, một số đề xuất về cải thiện hợp tác quốc tế và quy định trong nước để xây dựng khả năng chống chịu về lâu dài đã được đưa ra. Một nghiên cứu mới đây về hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp xuất khẩu của P.Jebah Shanthi và Dr. Các yếu tố được xem xét cho nghiên cứu là giá đóng cửa hàng ngày và thống kê tóm tắt được đưa vào để tìm giá trị trung bình và độ lệch chuẩn. Hồi quy tuyến tính được thực hiện giữa giá đóng cửa hàng ngày của 2 doanh nghiệp AVATIFEED và APEX để tìm mối quan hệ giữa các biến.
Tỷ suất lợi nhuận ròng và tỷ suất tài sản lưu động được lấy trong 5 năm để phân tích lợi nhuận và vị thế thanh khoản của các công ty. Hệ số thanh toán hiện hành được tính toán để biết vị trí của tài sản và nợ trong DN. Kết quả của nghiên cứu này cho thấy rằng có nhiều cơ hội để các công ty nuôi trồng thủy sản phát triển ở Ấn Độ. Rất nhiều nghiên cứu đã được thực hiện trên toàn thế giới nhằm xem xét tác động của dịch bệnh Covid – 19 nhưng chưa đi sâu vào phân tích HQHĐ của doanh nghiệp trong từng ngành cụ thể.
Nghiên cứu của Tiezhu Sun và cộng sự (2021) xem xét ảnh hưởng của Covid-19 đối với các chỉ tiêu kinh doanh và HQHĐ của các DN vừa và nhỏ ở Trung Quốc. Ở phạm vi nhỏ hơn, Peng Zou, Di Huo và Meng Li (2020), đã thực hiện một nghiên cứu đánh giá tác động của dịch bệnh Covid - 19 đối với các doanh nghiệp ở tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc) thông qua việc thực hiện khảo sát. Hay nghiên cứu về tác động của COVID-19 đối với các DN vừa và nhỏ ở Bắc Kinh (Trung Quốc) của Zhengwei Ma ,Yiran Liu và Yida Gao (2021). Bên cạnh đó, một số nghiên cứu tập trung vào nghiên cứu tác động của dịch bệnh đến tình hình hoạt động, hiệu suất hoạt động và năng lực cạnh tranh của các DN trong nhiều ngành nói chung, Trần Nguyễn Yến Nhi 10 2022 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.
TS Mai Thanh Quế có thể kể đến như: “Tác động của COVID-19 đối với kết quả và kỳ vọng của DN nhỏ” của Alexander W. Bartik và cộng sự (2020), “Vạch trần tác động của COVID- 19 đối với doanh nghiệp: Bằng chứng cấp độ vững chắc từ khắp nơi trên thế giới” của Apedo-Amah và cộng sự (2020) hay “Tác động của COVID-19 đối với hiệu quả hoạt động và sự đổi mới của các doanh nghiệp nhỏ” của Ronen Harel (2021).