Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận tác động của cộng đồng kinh tế Asean tới ngành nông nghiệp Việt Nam. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Đánh giá tác động của AEC đối với ngành nông nghiệp của Việt Nam Chương 4: Một số hàm ý chính sách thúc đẩy ngành nông nghiệp Việt Nam phát triển trong quá trình hội nhập AEC. Kết luận Tài liệu tham khảo. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN TÁC ĐỘNG CỦA CỘNG ĐỒNG KINH TẾ ASEAN TỚI NGÀNH NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM 1.Tổng quan tình hình nghiên cứu Tự do hóa thương mại đã và đang là xu thế chung trong nền kinh tế thị trường.
Cũng như các quốc gia khác, Việt Nam không nằm ngoài xu thế chung đó. Tới nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ thương mại với hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ, được xem là một trong những nước có nền kinh tế hướng xuất khẩu mạnh mẽ nhất trong khối các nước ASEAN. Trong tiến trình này có sự tác động không nhỏ của các hiệp định thương mại tự do đã được ký kết. Đặc biệt, cuối năm 2015, Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) đã chính thức ra đời và đưa ASEAN trở thành một thị trường và không gian sản xuất thống nhất; một khu vực phát triển đồng đều; khu vực kinh tế cạnh tranh và hội nhập mạnh mẽ vào nền kinh tế toàn cầu.
Đến nay, có khá nhiều những nghiên cứu đánh giá tác động của quá trình hội nhập tới nền kinh tế Việt Nam. Nghiên cứu về “Tự do thương mại quốc tế Việt Nam” thực hiện bởi trung tâm WTO – phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam (2014) đã đưa ra bức tranh toàn cảnh về diễn biến thương mại quốc tế của Việt Nam và đánh giá mức độ tự do hóa trong tất cả các khía cạnh thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ và đầu tư. Vũ Thanh Hương và Trần Việt Dung (2015) cung cấp bức tranh tổng thể về sự hội nhập của Việt Nam vào AEC trong lĩnh vực dịch vụ và phân tích tình hình cam kết cũng như tình hình thực hiện các cam kết nói chung của Việt Nam chứ chưa đi sâu phân tích cụ thể vào từng ngành. Nhìn chung, việc tham gia vào khu vực mậu dịch tự do tuy sẽ gây ra nhiều khó khăn thách thức, nhưng cũng sẽ đem lại nhiều cơ hội to lớn cho thương mại hàng hoá dịch vụ Việt Nam.
Bên cạnh những nghiên cứu định tính, cũng có khá nhiều nghiên cứu định lượng đo lường tác động của chính sách mở cửa 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com liên quan đến hội nhập khu vực cũng như mở cửa đa phương, song phương tới nền kinh tế bằng nhiều mô hình khác nhau. Tô Minh Thu (2009) đánh giá tác động của AFTA, FTA ASEAN-Trung Quốc, ASEAN-Nhật Bản, ASEAN-Hàn Quốc và tự do hóa thương mại toàn cầu đối với nền kinh tế Việt Nam với giả định tự do hóa thuơng mại hàng hóa và sử dụng mô hình CGE năng động. Tác giả này kết luận rằng trong số các FTA, FTA ASEAN- Trung Quốc mang lại lợi ích lớn nhất cho Việt Nam. Về tác động điều chỉnh cơ cấu ngành, sản xuất phát triển mạnh nhờ sự mở rộng của các ngành dệt, may và da.
Josept Francois và các cộng sự (2011) đã đánh giá tác động tổng thể của tự do hóa thương mại dịch vụ đối với nền kinh tế Việt Nam, bao gồm xác định các rào cản đối với dịch vụ ở Việt Nam trong khuôn khổ WTO và các khuôn khổ tự do hóa ở cấp độ khu vực. Các tác giả này kết luận rằng tự do hóa theo cam kết gia nhập WTO đã ở mức đáng kể, các khuôn khổ tự do hóa ở cấp độ khu vực chỉ tác động tăng cường ở mức hạn chế do thương mại dịch vụ chỉ chiếm tỷ trọng tương đối nhỏ trong tổng thương mại giữa các nước ASEAN. Jean Marc Philip và các cộng sự (2011) cũng dựa trên mô hình cân bằng tổng thể với các giả định về cam kết tự do hóa theo FTA Viêt Nam – EU đang đàm phán để đánh giá tác động của Hiệp định này đối với Việt Nam về kinh tế vĩ mô, ngành, xã hội và môi trường. Theo kết quả nghiên cứu ban đầu, EVFTA đem lại những lợi ích bền vững cho cả hai bên, trong đó phần lợi ích của Việt Nam là trội hơn.
Chỉ riêng việc cắt giảm thuế quan sẽ làm tăng xuất khẩu của Việt Nam sang EU lên khoảng 30% đến 40%, cao hơn mức tăng xuất khẩu trong trường hợp không có Hiệp định. Các ngành có khả năng hưởng lợi nhiều nhất từ FTA bao gồm dệt may, giày dép, chế biến thực phẩm (trong đó có thủy sản). Khu vực dịch vụ theo kỳ vọng cũng mở rộng đáng kể nhờ FTA, và có thể góp phần làm tăng hiệu suất cho toàn bộ nền kinh tế. Ngoài ra, mô hình trọng lực đang được sử dụng rộng rãi trong phân tích thương mại quốc tế với ưu điểm là có thể đánh giá ảnh hưởng của nhiều yếu tố riêng rẽ đối với thương mại quốc tế, do đó có thể tách riêng ảnh hưởng của các hiệp định FTA.
Nguyễn 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tiến Dũng (2011) thông qua mô hình này để đánh giá tác động của khu vực thương mại tự do Asean – Hàn Quốc (AKFTA) tới dòng thương mại Việt Nam. Nguyễn Anh Thu (2012) sử dụng mô hình trọng lực đánh giá tác động của hội nhập kinh tế của Việt Nam theo hiệp định thương mại tự do Asean (AFTA) và hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam - Nhật Bản (VJFTA) tới thương mại Việt Nam. Trong khuôn khổ bài luận văn này, tác giả nghiên cứu tác động của AEC tới ngành nông nghiệp Việt Nam sử dụng mô hình trọng lực. Kết quả bài nghiên cứu có thể giúp các nhà quản lý, các doanh nghiệp nâng cao nâng cao sức cạnh tranh các mặt hàng nông nghiệp từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam và xây dựng cơ chế, giải pháp để hiện thực hóa những lợi ích kỳ vọng của mở cửa thương mại là nhiệm vụ trọng tâm trong hội nhập kinh tế quốc tế thời gian tới của Việt Nam.Tổng quan về Asean Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (tiếng Anh: Association of Southeast Asian Nations, viết tắt là ASEAN) là một liên minh chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á.
Tổ chức này được thành lập ngày 8 tháng 8 năm 1967 với 5 thành viên đầu tiên là Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Singapore, và Philippines với mục tiêu của ASEAN là công khai và hợp tác kinh tế và văn hoá - xã hội, nhưng thực chất là một tập hợp chính trị nhằm đối phó với những biến động ở khu vực và quốc tế, để biểu hiện tinh thần đoàn kết giữa các nước trong cùng khu vực với nhau, đồng thời hợp tác chống tình trạng bạo động và bất ổn tại những nước thành viên. Sau Hội nghị Bali năm 1976, ASEAN xúc tiến chương trình cộng tác kinh tế, nhưng các nỗ lực đều đi đến bế tắc vào giữa thập niên 1980. Phải đợi đến năm 1991 khi Thái Lan đề xuất thành lập khu vực thương mại tự do thì khối mậu dịch ASEAN mới hình thành. Hàng năm, các nước thành viên đều luân phiên tổ chức các cuộc hội họp chính thức để tăng cường hợp tác.
Đến nay, ASEAN gồm có 10 quốc gia thành viên. ASEAN bao gồm một diện tích đất 4,46 triệu km2, chiếm 3% tổng diện tích 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đất của Trái đất, và có một dân số khoảng 600 triệu người, chiếm 8,8% dân số thế giới. Vùng biển của ASEAN là ba lần lớn hơn so với đất. Nếu ASEAN là một thực thể duy nhất, quốc gia đó sẽ xếp hạng trong các nền kinh tế lớn thứ 10 trên thế giới, sau Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn độ, Đức, Nga, Pháp, Canada, Tây Ban Nha, Brazil, Anh và Ý.
Theo Hiến chương và mục tiêu xây dựng Cộng đồng, ASEAN là một tổ chức liên Chính phủ và bình đẳng chủ quyền giữa các nước thành viên, chứ không phải là một tổ chức siêu quốc gia như EU. Tính chất liên Chính phủ của ASEAN là nền tảng và nhân tố quyết định nhiều vấn đề cơ bản của hợp tác ASEAN. Đáng chú ý nhất là nguyên tắc ra quyết định trên cơ sở “đồng thuận”, theo đó, ASEAN luôn phải phấn đấu bảo đảm “sự thống nhất trong đa dạng” trên cơ sở gia tăng những lợi ích cơ bản chung. ASEAN ngày càng đóng vai trò quan trọng trong ổn định và phát triển khu vực châu Á- Thái Bình Dương và trên thế giới.
Vai trò của ASEAN thể hiện: Đóng góp cho nền hoà bình bền vững trong khu vực và thế giới: ASEAN là nhân tố quan trọng bảo đảm hoà bình và ổn định ở khu vực. Trước hết, sự hiểu biết và tin cậy lẫn nhau giữa các nước thành viên ASEAN ngày càng gia tăng thông qua nhiều hoạt động đa dạng, trong đó có việc duy trì tiếp xúc thường xuyên ở các cấp, nhất là giữa các vị Lãnh đạo Cấp cao. ASEAN chủ động đề xướng và tích cực phát huy tác dụng của nhiều cơ chế bảo đảm hoà bình và an ninh khu vực như: Tuyên bố Đông Nam Á là Khu vực Hoà Bình, Tự do và Trung Lập (ZOPFAN) năm 1971; Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á (TAC) ký năm 1976 và đến nay đã trở thành Bộ quy tắc ứng xử chỉ đạo mối quan hệ không chỉ giữa các nước Đông Nam Á mà cả giữa các nước ASEAN và các đối tác bên ngoài; Hiệp ước khu vực Đông Nam Á không có vũ khí hạt nhân (SEANWSZ) năm 1995; Tuyên bố của các bên liên quan về cách ứng xử ở Biển Đông (DOC) năm 2002, là bước quan trọng tiến tới Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) nhằm duy trì hòa bình và ổn định trên Biển đông… 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ASEAN khởi xướng lập Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) để tạo khuôn khổ thích hợp cho ASEAN và các đối tác bên ngoài tiến hành đối thoại và hợp tác về các vấn đề chính trị an ninh ở Châu Á - Thái Bình Dương.