Chương 1: Giới thiệu tổng quan nghiên cứu Chương này chủ yếu giới thiệu tổng quát về đề tài nghiên cứu, bao gồm các nội dung cơ bản như lý do chọn đề tài, mục tiêu, câu hỏi, phương pháp nghiên cứu, phạm vi và dữ liệu nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước Nội dung chương này tập trung trình bày về lý thuyết nền của đề tài nghiên cứu như lý thuyết về tín dụng ngân hàng, tăng trưởng tín dụng và CSTT. Song song đó, chương này cũng sẽ trình bày tổng quan về các nghiên cứu trước liên quan đến đề tài bao gồm cả nghiên cứu nước ngoài và trong nước. Chương 3: Phương pháp và mô hình nghiên cứu Chương này trình bày về phương pháp và mô hình nghiên cứu đề xuất, cơ sở thu thập nguồn dữ liệu, phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu.
5 Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu Chương này trình bày tóm lược về thực trạng điều hành CSTT tại Việt Nam trong giai đoạn 2010 – 2019 bao gồm các công cụ điều hành, các mục tiêu điều hành và các kết quả kinh tế vĩ mô đạt được. Đồng thời, chương này cũng sẽ tiến hành thực hiện các bước kiểm định và phân tích kết quả của mô hình nghiên cứu theo phương pháp kinh tế lượng. Chương 5: Kết luận và khuyến nghị Trên cơ sở kết quả phân tích nghiên cứu được đề cập ở chương 4, chương này chủ yếu đưa ra kết luận về sự tác động của CSTT đến tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng Việt Nam. Từ đó, trình bày tiếp các khuyến nghị về CSTT cho các đối tượng liên quan nhằm thúc đẩy tăng trưởng tín dụng một cách hiệu quả và an toàn.
6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Lý thuyết hoạt động tín dụng của hệ thống ngân hàng 2.1 Khái niệm về tín dụng ngân hàng Tín dụng là một quan hệ ra đời gắn liền với sản xuất và lưu thông hàng hóa trong nền kinh tế. Tín dụng bắt nguồn từ chữ Credit hoặc Creditum, dịch hiểu đơn giản là “quan hệ sử dụng sự tín nhiệm”. Đối với khái niệm về tín dụng ngân hàng, đó là một quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó bên cấp tín dụng (ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng khác) chuyển giao một tài sản cho bên nhận tín dụng (doanh nghiệp, cá nhân hoặc các chủ thể khác) sử dụng theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi (Bùi Diệu Anh và ctg, 2009). Tín dụng ngân hàng chính là nguồn vốn bên ngoài chủ yếu của bất kỳ một doanh nghiệp nào nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu tài trợ tài chính của họ.
Một doanh nghiệp hầu như không lựa chọn việc xây dựng cơ cấu nguồn vốn bằng toàn bộ vốn tự có của họ, đặc biệt đối với loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ vốn dĩ không đủ nguồn lực để gia tăng nguồn vốn (White and Cestone, 2003). Theo Nguyễn Minh Kiều (2013), tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định. Hiểu một cách đơn giản, tín dụng ngân hàng chính là hoạt động cấp hạn mức tín dụng của ngân hàng (bên cho vay) cho khách hàng (bên đi vay) để đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn hoặc trung dài hạn của khách hàng tùy theo mục đích sử dụng vốn vay bằng cách chi trả một chi phí cụ thể (lãi suất vay) trong một khoảng thời gian nhất định theo như thỏa thuận của hai bên.2 Phân loại tín dụng ngân hàng Theo Nguyễn Minh Kiều (2013), căn cứ vào tiêu chí phân loại khác nhau, tín dụng ngân hàng được chia thành các loại hình khác nhau. Cụ thể như sau: Dựa vào mục đích sử dụng vốn vay, gồm có: Cho vay phục vụ sản xuất kinh doanh công thương nghiệp; cho vay tiêu dùng cá nhân; cho vay mua 7 bán bất động sản; cho vay sản xuất nông nghiệp và cho vay kinh doanh xuất nhập khẩu.
Dựa vào thời hạn tín dụng, gồm có: Cho vay ngắn hạn (là các khoản vay có thời hạn cho vay tối đa (01) một năm); cho vay trung hạn (là các khoản vay có thời hạn cho vay trên 01 (một) năm và tối đa 05 (năm) năm); và cho vay dài hạn (là các khoản vay có thời hạn cho vay trên 05 (năm) năm). Dựa vào mức độ tín nhiệm của ngân hàng, gồm có: Cho vay không có bảo đảm (hay gọi là cho vay tín chấp): Là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba mà chỉ dựa vào uy tín, năng lực tài chính và khả năng trả nợ của khách hàng vay vốn để quyết định cấp hạn mức tín dụng; Cho vay có bảo đảm: Là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm cho tiền vay như thế chấp tài sản cố định (máy móc thiết bị, nhà ở, nhà xưởng…) hoặc tài sản hình thành trong tương lai, thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thế chấp tiền gửi định kỳ hoặc tiền mặt, cầm cố hoặc bảo lãnh từ một bên thứ ba nào khác. Dựa vào phương thức cho vay, gồm có: Cho vay theo món vay; cho vay theo hạn mức tín dụng; và cho vay theo hạn mức thấu chi.2 Lý thuyết tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng 2.1 Khái niệm về tăng trưởng tín dụng Theo Foos và ctg (2010), tăng trưởng tín dụng là sự thay đổi giá trị các khoản cho vay qua các năm. Hay nói cách khác, tăng trưởng tín dụng chính là phần trăm thay đổi tổng dư nợ cho vay khách hàng trong năm t so với năm t-1.
Tốc độ tăng trưởng tín dụng năm t (%) =( )-1 Tăng trưởng tín dụng giữ một vai trò rất quan trọng vì đây là chỉ tiêu thể hiện được khả năng hoạt động tín dụng của từng ngân hàng và toàn ngành ngân hàng. Ngoài ra, tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngân hàng còn có sự ảnh hưởng trực tiếp đáng kể đến sự tăng trưởng của nền kinh tế trong ngắn hạn, đặc biệt việc cấp tín dụng của ngân hàng chính là mạch huyết chính giúp lưu thông 8 nguồn vốn của nền kinh tế từ chủ thể thừa vốn sang chủ thể thiếu vốn. Tuy nhiên, tăng trưởng tín dụng không phải là một công cụ để đo lường hiệu quả hoạt động tín dụng ngân hàng. Sự gia tăng hay sự sụt giảm trong tốc độ tăng trưởng tín dụng đều tồn đọng hai góc độ tích cực lẫn tiêu cực, điều này còn phụ thuộc vào điều kiện kinh tế vĩ mô và vị thế của từng ngân hàng.
Nhưng nhìn chung, các ngân hàng ở nước ta hiện đều hướng đến các mục tiêu tăng trưởng tín dụng vì đây chính là nguồn kinh doanh chính yếu mang lại lợi nhuận cho ngân hàng (Nguyễn Ngọc Viễn, 2017). Trước năm 2012, NHNN không có can thiệp vào quy mô cấp tín dụng của ngân hàng mà là các ngân hàng tự căn cứ vào tình hình hoạt động và tiềm lực nguồn vốn huy động của mình để đặt ra mục tiêu tăng trưởng tín dụng hợp lý. Tuy nhiên, căn cứ theo Điều 2.3 của Chỉ thị số 01/CT-NHNN (2012) thì NHNN đã đặt ra mục tiêu tiêu tăng trưởng tín dụng cụ thể đối với 4 nhóm tổ chức tín dụng để phù hợp với chính sách tiền tệ và đảm bảo hoạt động ngân hàng an toàn và hiệu quả. Mục tiêu tăng trưởng tín dụng của từng nhóm ngân hàng sẽ được thiết lập dựa trên cơ sở đánh giá tình hình hoạt động và khả năng tăng trưởng tín dụng lành mạnh, giao chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng tín dụng, số dư mua trái phiếu doanh nghiệp (trừ trái phiếu do tổ chức tín dụng phát hành) và dư nợ cho vay bằng nguồn vốn ủy thác (bao gồm cả yếu tố điều chỉnh tỷ giá).
Cụ thể như sau: Nhóm I (hoạt động lành mạnh) tăng trưởng tối đa 17%; Nhóm II (hoạt động trung bình) tăng trưởng tối đa 15%; Nhóm III (hoạt động dưới trung bình) tăng trưởng tối đa 8%; và Nhóm IV (hoạt động yếu kém) không được phép tăng trưởng. Trên cơ sở dựa vào mục tiêu tăng trưởng tín dụng được giao, từng ngân hàng sẽ thiết lập kế hoạch tăng trưởng tín dụng cụ thể và triển khai hoạt động tín dụng theo kế hoạch được NHNN chấp thuận một cách nghiêm túc và nhất quán. Tuy vậy, môi trường kinh tế vĩ mô vẫn thường xảy ra nhiều biến động mà vượt tầm kiểm soát của NHNN nên ngành ngân hàng nói chung, các tổ chức tín dụng nói riêng cũng cần phải linh hoạt trong nhiệm vụ thực thi kế hoạch tăng trưởng 9 tín dụng để góp phần thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng một cách bền vững và hiệu quả.2 Phân loại tăng trưởng tín dụng Theo Clair (1992), tăng trưởng tín dụng có thể được tạo ra bằng cách tăng cho vay đối với khách hàng hiện tại hoặc khách hàng mới. Danh mục cho vay có thể được tăng lên bằng cách mua lại hoặc sáp nhập.
Việc mua lại có thể là một ngân hàng có năng lực tài chính mạnh hoặc ngân hàng phá sản với sự hỗ trợ của nhà nước. Vì vậy, tác động của tăng trưởng tín dụng đối với chất lượng tín dụng có thể là khá khác nhau, tùy thuộc vào nguồn tăng trưởng tín dụng Tăng trưởng tín dụng được chia thành ba loại sau: Tăng trưởng thông qua việc mua lại ngân hàng phá sản với sự hỗ trợ của nhà nước; Tăng trưởng thông qua việc mua lại hoặc sáp nhập không có sự hỗ trợ của nhà nước; hoặc Tăng trưởng tin dụng do chính nội bộ ngân hàng tạo ra. Tăng trưởng tín dụng thông qua việc mua lại ngân hàng phá sản với sự hỗ trợ của nhà nước không thể tác động trái chiều đến chất lượng tín dụng bởi vì trong hầu hết các giao dịch này, nhà nước loại bỏ các khoản tín dụng có chất lượng thấp từ danh mục cho vay. Trong một số trường hợp khác, nhà nước không nhận bất kỳ khoản vay chất lượng thấp nào, nhưng thay vào đó, cung cấp nguồn lực cho các tổ chức mua lại để xóa các khoản nợ xấu.
Ngoài ra, một ngân hàng có thể tăng danh mục cho vay thông qua việc mua lại các ngân hàng khác. Thông thường, ngân hàng được mua lại được yêu cầu xóa các khoản tín dụng có vấn đề trước khi thực hiện việc mua lại. Trong các trường hợp khác, ngân hàng được mua lập một ngân hàng nắm giữa các khoản tín dụng có vấn đề. Ngân hàng được lập này do các cổ đông của ngân hàng được mua lại sở hữu để tách tác động của các khoản tín dụng có vấn đề khỏi ngân hàng mua lại.