đặt vấn đề định hướng cho nghiên cứu, mục tiêu của luận văn được đặt ra để trả lời cho những câu hỏi nghiên cứu, nguồn dữ liệu và phương pháp nghiên cứu sử dụng để xử lý cho bộ dữ liệu thu thập, ý nghĩa của luận văn trong thực tiễn và cuối cùng là bố cục của bài nghiên cứu. 123doc 10 CHƯƠNG 2_ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CHI TIÊU CÔNG GIÁO DỤC VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC 2. Cơ sở lý thuyết Vốn con người giữ một vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, bởi những lý do: (1) Kĩ năng được tạo ra bởi giáo dục và đào tạo kết hợp với vốn hữu hình và các lao động thô để tạo ra sản phẩm. Từ nữa cuối thế kỷ 18 thuật ngữ vốn con người đã được học giả Smith (1776) đặt nền móng.
Tuy nhiên, trong thời kỳ này các nhà kinh tế chỉ tập trung vào hai yêu tố đầu vào trong quá trình sản xuất là vốn tư bản và máy móc thiết bị. Các nhà kinh tế học đã đưa vốn con người vào mô hình tăng trưởng trong những năm giữa thế kỷ 20. Vấn đề trọng tâm trong lý thuyết tăng trưởng nội sinh là đánh giá vai trò của tích lũy và sử dụng vốn con người trong tăng trưởng kinh tế. Quan điểm của trường phái kinh tế nội sinh cho rằng tích lũy vốn con người là nội sinh đối với hệ thống kinh tế và cho phép giải thích một cơ chế cộng dồn tăng trưởng mà không cần viện dẫn đến một tăng trưởng ngoại sinh.
Theo Romer (1990), vốn con người là một kho tri thức hiện có trong một xã hội, kho tri thức này là sản phẩm công cộng. Romer lấy vai trò của tiến bộ kỹ thuật là nguồn gốc nội sinh của tăng trưởng. Barro và Sala-i-Martin (1995) đã xây dựng hàm tăng trưởng có dạng: Y = K(uH)1-. Y: Là biến phụ thuộc u: Là thời gian dành cho sản xuất H: Là vốn con người K: Sản lượng quốc gia Vốn con người được tích lũy từ kiến thức và kinh nghiệm thu nhận được trong đào tạo và cuộc sống.
Mô hình tăng trưởng nội sinh đề cao vai trò của chính phủ trong việc phát triển kinh tế thông qua đầu tư vào giáo dục để phát triển vốn con người, vốn con người gia tăng dẫn đến mức năng suất cao và tác động đến tăng trưởng kinh tế. Do 123doc 11 đó chính phủ của các nước đều cố gắng hành động để tạo ra vốn con người. Để phát triển vốn con người thì vai trò của chính phủ các nước trong việc phân bổ nguồn lực cho giáo dục, y tế là rất quan trọng, cần có biện pháp nâng cao hiệu quả quản trị những nguồn lực này để có tác động tích cực tới việc hình thành vốn con người và tăng trưởng kinh tế. Chi tiêu công giáo dục 2.
Khái niệm Cho đến nay, do xuất phát từ những cách tiếp cận khác nhau nên có một số khái niệm về chi tiêu công giáo dục như sau: Dương Thị Bình Minh (2005), chi tiêu công là các khoản chi tiêu của nhà nước nhằm thực hiện các chức năng vốn có của nhà nước trong việc cung cấp hàng hóa công phục vụ lợi ích kinh tế - xã hội cho cộng đồng. Chi tiêu công là một phạm trù kinh tế tồn tại khách quan gắn liền với sự tồn tại của nhà nước, là công cụ của nhà nước để trang trải và đảm bảo các hoạt động của bộ máy quản lý, giữ gìn an ninh trật tự xã hội, can thiệp vào các hoạt động kinh tế xã hội nhằm ổn định môi trường kinh tế vĩ mô, bảo vệ lợi ích chung của các chủ thể trong xã hội. Từ khái niệm chi tiêu công có thể hiểu chi tiêu công giáo dục là những khoản chi của nhà nước trong lĩnh vực giáo dục nhằm thực hiện các chức năng quản lý nhà nước trong việc cung cấp dịch vụ giáo dục đáp ứng nhu cầu của dân chúng và phát triển kinh tế - xã hội. Theo khái niệm của UNESCO, chi tiêu công giáo dục có nghĩa là chi tiêu được thực hiện bởi nhà nước hoặc chính phủ hoặc cơ quan công quyền trong giáo dục.
Theo OECD, CTC giáo dục bao gồm chi trực tiếp cho các tổ chức giáo dục cũng như các khoản trợ cấp công liên quan đến giáo dục dành cho các hộ gia đình và được quản lý bởi các tổ chức giáo dục. Chi tiêu công giáo dục được hiển thị dưới dạng phần trăm GDP và được phân chia ra trước tiểu học, tiểu học đến sau trung học và đại học. 123doc 12 Schultz (1961) cho rằng chi phí giáo dục bao gồm tất cả các chi phí phát sinh trong quá trình học tập. Theo đó, có chi tiêu công và chi tiêu tư nhân.
Từ những khái niệm trên cho thấy chi tiêu công giáo dục chính là những khoản chi tiêu của chính phủ trong lĩnh vực giáo dục. Đặc điểm chi tiêu công giáo dục CTC giáo dục là một phần trong cơ cấu chi tiêu công. Vì vậy, chi tiêu công giáo dục vừa mang những đặc điểm chung của chi tiêu công và những đặc điểm riêng của nội dung chi này. - CTC giáo dục là những khoản chi của chính phủ cho con người và đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất cần thiết cho các cơ sở giáo dục để cung cấp dịch vụ cho người dân.
- Những khoản chi tiêu công giáo dục luôn mang tính chất công cộng - Là những khoản chi không mang tính hoàn trả hay hoàn trả không trực tiếp - Chi tiêu công giáo dục phục vụ lợi ích chung của cộng đồng dân cư ở các vùng hay phạm vi quốc gia. Phân loại chi tiêu công giáo dục * Phân loại theo tính chất chi; Chi phí đầu vào cần thiết cho các hoạt động giáo dục và quản lý được phân chia theo tỷ trọng chi tiêu và được thể hiện ở hai nhóm chi là chi thường xuyên và chi đầu tư. - Chi thường xuyên bao gồm những khoản chi chủ yếu; khoản chi lương cho nhân sự và các khoản chi thường xuyên khác như thuê mướn, điện, nước, đồ dùng dạy học, sửa chữa nhỏ…. - Chi đầu tư; đất đai, cơ sở vật chất, chi xây dựng, mua sắm và sửa chữa lớn trang thiết bị không nằm trong khoản mục chi thường xuyên.
* Phân loại theo chức năng hoặc mục đích; Việc phân loại chi tiêu theo mục đích giúp phân tích các hoạt động trường học khác nhau: - Các hoạt động dạy học; lương, sách giáo khoa, tài liệu giảng bài - học tâp… - Các hoạt động có liên quan đến giáo dục; các hoạt động ngoại khóa, giám sát, theo dõi học sinh ngoài lớp học. 123doc 13 - Các hoạt động hành chính; quan hệ với chức năng trung ương và địa phương, quan hệ với giáo viên, cha mẹ học sinh, học sinh, hành chính và quan lý hành chính. - Các hoạt động xã hội và phúc lợi học sinh; các bữa ăn ở trường và cơ sở vật chất ăn ở, chăm sóc sức khỏe và phòng bệnh… * Phân loại theo nguồn tài chính; - Các tổ chức chính phủ + Cơ quan trung ương; Bộ Giáo dục và các bộ, ngành khác + Cơ quan địa phương - Các nguồn khác; các khoản vay, các khoản tài trợ * Phân loại theo cấp giáo dục; Phân loại theo cấp giáo dục, loại hình giáo dục và một số hoạt động liên quan là cách phân loại căn bản về chi tiêu giáo dục. - Cấp thứ nhất; giáo dục mầm non (tiền học đường) và tiểu học - Giáo dục trung học; giáo dục phổ thông, đào tạo kỹ thuật và đào tạo nghề, đào tạo sư phạm và thực tập sinh - Giáo dục đại học; cao đẳng, đại học và các cơ sơ khác - Giáo dục cho người lớn; chương trình xóa mù và giáo dục thường xuyên - Các hoạt động khác; các hoạt động hành chính liên quan đến giáo dục.
Một số chỉ tiêu đo lường chi tiêu công cho giáo dục Một số chỉ tiêu tài chính thường được sử dụng phổ biến trong chi tiêu công cho giáo dục là: - Phần trăm chi tiêu công cho giáo dục trong tổng sản phẩm quốc nội; chỉ tiêu này thể hiện tỷ trọng trong số của cải tạo ra trên lãnh thổ của một nước trong một năm tài chính nhất định đã được nhà nước sử dụng cho giáo dục. Tổng CTC cho GD trong năm tài chính x 100 % CTC cho giáo = dục trong GDP GDP trong năm tài chính - Phần trăm chi tiêu công cho giáo dục trong tổng chi tiêu của chính 123doc 14 phủ; cho phép đánh giá trọng tâm chính sách của chính phủ vào giáo dục trong mối quan hệ với giá trị hiện hữu của các loại đầu tư công khác và phản ánh cam kết của một chính phủ trong đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực. % CTC cho giáo Tổng CTC cho GD trong năm tài chính x 100 dục trong TCT = TCT của chính phủ trong năm tài chính của chính phủ - Phần trăm phân bổ ngân sách chi thường xuyên cho giáo dụ theo cấp học; thể hiện nguồn lực tài chính cho giáo dục được phân bổ thế nào cho các cấp học hoặc giai đoạn giáo dục khác nhau. Đo lường trọng tâm tương đối chi tiêu của chính phủ cho một cấp học cụ thể trong tổng CTC cho giáo dục.
Tổng CTC thường xuyên cho cấp % CTC thường GD trong năm tài chính x 100 xuyên cho giáo = TCT công thường xuyên cho tất cả dục theo cấp học các cấp giáo dục trong năm tài chính - Phần trăm chi tiêu công thường xuyên cho 1 học sinh (sinh viên) trong GNP bình quân đầu người; chỉ tiêu này đo lường tỷ trọng thu nhập bình quân đầu người được sử dụng cho mỗi học sinh hoặc sinh viên. Nó có ích trong việc đánh giá mức độ đầu tư của một đất nước đối với phát triển nguồn nhân lực. Khi được tính theo cấp học, chỉ tiêu này cũng thể hiện chi phí và trọng tâm của một nước cho một cấp giáo dục nhất định. CTC thường Tổng CTC thường xuyên tại một cấp học = xuyên/1 học sinh Tổng số học sinh đi học cấp đó GNP tổng GNP/người = Tổng số dân 123doc 15 % CTC thường CTC thường xuyên/1 học sinh xuyên 1 học sinh = TCT công thường xuyên cho tất cả trong GNP/người các cấp giáo dục trong năm tài chính - Phần trăm chi tiêu công thường xuyên cho giáo dục trong tổng chi tiêu công cho giáo dục; chỉ tiêu này thể hiện phần trăm của chi thường xuyên trong tổng CTC cho giáo dục, do vậy nó cho thấy mô hình chi tiêu của chính phủ cho giáo dục trên phương diện tỷ trọng tương đối của chi tiêu thường xuyên và chi đầu tư phát triển.