chương 1, luận văn sẽ trình bày lý thuyết về chi tiêu chính phủ và tác động của khí thải CO2 đến môi trường.Sau đó, luận văn trình bày cơ sở lý thuyết, cũng như các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của chi tiêu chính phủ lên lượng khí thải CO2. Nội dung chương này làm cơ sở để thực hiện mô hình nghiên cứu ở Chương 3. Lý thuyết về chi tiêu chính phủ 1. Khái niệm Trên phương diện quốc tế, Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) đã ban hành Cẩm nang Thống kê tài chính Chính phủ (GFS) trong đó khái niệm chi ngân sách được khái quát như sau: Chi ngân sách là các khoản chi ra từ ngân sách không làm phát sinh nghĩa vụ phải bồi hoàn trực tiếp đối với các đối tượng thụ hưởng ngân sách, đó chính là toàn bộ khoản thực chi ngân sách trong một năm tài khóa.Chi ngân sách chính phủ bao gồm chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển, chi chuyển nhượng, chi trả lãi vay nhưng không bao gồm chi trả nợ gốc và các khoản chi khác.
Phân loại Chi tiêu của chính phủ được các nhà kinh tế học phân ra làm 3 loại chính:1 - Các khoản mua hàng hóa và dịch vụ để tiêu dùng hiện tại được gọi là Tiêu dùng của chính phủ (Government consumption); - Các khoản chính phủ để mua các hàng hóa và dịch vụ nhằm tạo ra lợi ích trong tương lai, như đầu tư vào cơ sở hạ tầng và nghiên cứu, được gọi là Đầu tư của chính phủ (Government investment). - Các khoản không phải để mua hàng hóa dịch vụ, mà chỉ là hành động di chuyển tiền, như trả cho phúc lợi xã hội, được gọi là chi chuyển giao (Transfer payments).vn/thuat-ngu/government-spending-chi-tieu-cua-chinh-phu~2580 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Các khoản chi tiêu của chính phủ có thể được tài trợ bởi lãi do phát hành tiền, thuế và vay mượn. Hai loại chi tiêu trên của chính phủ hợp thành một trong những bộ phận chính của Tổng sản phẩm quốc nội. Ngoài ra, Lopez và Galinato (2007) trong một nghiên cứu xem liệu chính phủ có nên ngừng trợ cấp cho hàng hoá tư nhân hay không, đã phân loại chi tiêu chính phủ dựa trên kết quả tác động của chúng lên thị trường.Loại thứ nhất được gọi là "chi tiêu hàng hoá công", đó là chi tiêu chính phủ làm giảm bớt sự thất bại của thị trường.
Ví dụ, chi tiêu cho y tế và giáo dục để giảm bớt khó khăn của thị trường tín dụng, chi tiêu về môi trường để giảm thiểu ô nhiễm, chi tiêu vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên để thiết lập quyền sở hữu, chi tiêu cho nghiên cứu và phát triển để nội hoá hiệu ứng lan tỏa tích cực và chi tiêu vào việc cung cấp tối ưu hàng hóa công. Mặt khác, "chi hàng hoá tư nhân" chiếm một phần chi tiêu chính phủ mà không làm giảm bớt sự thất bại của thị trường hay thậm chí có thể làm trầm trọng thêm.Trợ cấp nông nghiệp, trợ cấp cho sản xuất nhiên liệu hóa thạch và giảm thuế cho một số doanh nghiệp đặc biệt là những ví dụ của các khoản chi này. Chức năng của chi tiêu chính phủ Mục tiêu truyền thống của chi tiêu chính phủ là sử dụng nó như một công cụ của chính sách nhà nước để bảo vệ một khu vực bằng cách cung cấp pháp luật, trật tự và công lý (Sobhan và cộng sự, 1993).Tuy nhiên, quan điểm hiện đại về chi tiêu của chính phủ cung cấp một mục tiêu rộng lớn hơn nhiều. Ngày nay, chi tiêu chính phủ bao gồm các vấn đề như phát triển cơ sở hạ tầng, cải thiện về khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe và thúc đẩy phát triển cơ cấu kinh tế.Để mở rộng các mục tiêu không cần thiết tùy thuộc vào đường lối chính trịcủa Nhà nước.
Mức chi tiêu của chính phủ có thể được giải thích hướng theo một khuôn khổ với ba mô hình giải thích mức độ chi tiêu của chính phủ. Các mô hình này phân loại LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 chi tiêu chính phủ phù hợp với chức năng kinh tế vĩ mô của họ liên quan đến hình thái của chính phủ về triết lý chính trị. - Thứ nhất, nhà nước tối thiểu, còn được gọi là trạng thái canh gác ban đêm, được xem xét đến. Trong mô hình này, chính phủ giới hạn trách nhiệm của mình để bảo vệ các công dân khỏi ép buộc, lừa đảo và trộm cắp, cung cấp bồi thường cho cácnạn nhân và bảo vệ đất nước khỏi nguy hiểm từ nước ngoài.
Vì vậy, vai trò của nhànước sẽ bị giới hạn trong việc cung cấp đơn thuần về cảnh sát, hệ thống tòa án, nhàtù và quân đội. - Thứ hai, nhà nước phúc lợi, là nhà nước chịu trách nhiệm về các phúc lợi của công dân mình. Chính phủ có trách nhiệm cung cấp vật chất và đáp ứng các nhu cầu xã hội. Triết lý là có một nền tảng xã hội chủ nghĩa với mục tiêu chính là tạo ra một xã hội công bằng và giảm bất bình đẳng thu nhập.
Do đó, trách nhiệm của nhà nước sẽ được mở rộng và bên cạnh đó phải chịu trách nhiệm cung cấp an ninh nhà nước cũng như chịu trách nhiệm về các vấn đề như giáo dục, nhà ở, y tế, bảo hiểm, nghỉ ốm, thu nhập bổ sung, trả lương công bằng … - Cuối cùng, nhà nước phát triển, là hình thái khó khăn để đạt được. Thuật ngữ này được sử dụng để xác định một hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô do nhà nước lãnh đạo được áp dụng ở một số nước Đông Á. Trong mô hình này, nhà nước có quyền lực chính trị gần như đủ để kiểm soát nền kinh tế. Do đó, chính phủ có thể áp dụng rộng rãi các quy định, lập kế hoạch và thực hiện các biện pháp can thiệp mạnh mẽ.
Tuy nhiên, nền tảng của mô hình này nằm trong bối cảnh tư bản.Điều này là bởi vì một khi nhà nước hoàn toàn phát triển; chính phủ chia sẻ quyền sở hữu của mình và cho phép các lực lượng thị trường tham dự vào quá trình của mình.Trong mô hình này, chính phủ chịu hoàn toàn trách nhiệm trong phát triển kinh tế. Chi tiêu chính phủ do đó sẽ tập trung thúc đẩy sản xuất nói chung, thông qua cơ sở hạ tầng, hỗ trợ cho các doanh nghiệp và xuất khẩu. Từ phân tích này, có thể kết luận rằng một yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến quyết định về mức độ chi tiêu của chính phủ là động lực chính trị của nhà nước. Hơn nữa, nhà nước cũng gặp phải hạn chế về tình hình tài chính trong việc lựa chọn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 mô hình mà nhà nước mong muốn.
Do đó, nếu chi tiêu chính phủ được coi là một biến ngoại sinh, mức độ có thể được hoàn toàn dựa trên các mục tiêu chính trị của người ra quyết định thay vì lý do kinh tế.2 Khí CO2 và tác động tiêu cực đến môi trường 1. Giới thiệu khí CO2 Carbon dioxide (các tên gọi khác là thán khí, khí cacbonic) là một hợp chất ở điều kiện bình thường tồn tại ở dạng khí, bao gồm một nguyên tử cacbon và hai nguyên tử oxy. Nó thường được gọi theo công thức hóa học là CO2. Trong dạng rắn, nó được gọi là băng khô.
Carbon dioxide là sản phẩm cuối cùng trong quá trình hô hấp của cở thể sinh vật, bao gồm tất cả các loài thực vật, động vật, nhiều loại nấm và một số vi khuẩn. Trong các động vật bậc cao, carbon dioxide di chuyển trong máu từ các mô của cơ thể tới phổi và ở đây nó bị thải ra ngoài. Nguồn phát thải khí CO2 -Chu trình cacbon Các nhà khoa học tính toán rằng, khoảng 4,5 tỷ năm trước đây, khi trái đất bắt đầu hình thành, CO2 có thể chiếm đến 80% trong khí quyển. Nhưng cách đây 2 tỷ năm, lượng CO2 chỉ còn khoảng 20-30%.
Trong khí quyển còn nhiều CO2 nên sự sống vẫn tồn tại. Cây cối quang hợp rất mạnh làm cho nồng độ CO2 giảm xuống và lượng oxy trong khí quyển tăng lên. Ngoài ra, khi cây cối và động vật chết, xácchết bị phân huỷ làm choCO2 thoát ra. Lượng CO2 ra khỏi khí quyển hàng năm được cân bằng với lượng CO2 sinh ra.
Nhờ cơ chế này mà môi trường được ổn định. -Đốt phá rừng Khi cây cối chết, chúng thải ra CO2, đó là quá trình bình thường của chu trình cacbon. Nhưng khi cây cối bị đốn chặt để làm chất đốt thì CO2 thải ra không khí nhiều hơn. Theo thống kê của Liên hợp quốc, việc phá rừng mạnh trong 2 thập kỷ 80 và 90 (thế kỷ XX) đã làm cho lượng CO2 trong không khí tăng lên, đồng thời lượng oxy trong không khí giảm đi rõ rệt.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 -Nhiên liệu hoá thạch Nguồn cacbon trong nhiên liệu hoá thạch được lưu trữ từ hàng triệu năm trước vì cơ thể sống không bị phân hủy hoàn toàn, cacbon không bị phát thải vào khí quyển dưới dạng CO2, trái lại được lưu trữ trong lòng đất.Trong khi khai thác và đốt nhiên liệu hoá thạch, nguồn cacbon này mới được giải phóng.Như vậy, việc đốt nhiên liệu hoá thạch đã nhanh chóng làm cho cacbon bị giam giữ hàng triệu năm trước phát thải mạnh lượng CO2.Đây là nguyên nhân lớn nhất làm ô nhiễm bầu không khí. Tác động của khí CO2 đến môi trường Sự gia tăng nồng độ khí CO2 trong bầu khí quyển đã gây ra những tác động tiêu cực tới trái đất như làm giảm pH của môi trường nước. Sự hòa tan của khí CO2 vào trong nước mưa và nước biển từ đó làm thay đổi điều kiện sống của các loài sinh vật trong những môi trường đó. Tuy nhiên hệ quả lớn nhất từ sự gia tăng quá mức của nồng độ CO2 trong khí quyển đó là gây ra sự ấm lên của trái đất do “hiệu ứng nhà kính”.
Trong bầu khí quyển, các tia bức xạ sóng ngắn của mặt trời xuyên qua bầu khí quyển đến mặt đất và được phản xạ trở lại thành các bức xạ nhiệt sóng dài. Một số phân tử trong bầu khí quyển, trong đó trước hết là CO2 và hơi nước có thể hấp thụ những bức xạ nhiệt này và giữ hơi ấm lại trong bầu khí quyển.Nếu không có hiệu ứng nhà kính tự nhiên nhiệt độ trái đất chỉ vào khoảng -15°C. Tuy nhiên, sự gia tăng nồng độ của các khí nhà kính trong vòng 100 năm lại đây (CO2 tăng 20%, mêtan tăng 90%) đã làm tăng nhiệt độ thêm 2°C. Các khí nhà kính do loài người phát thải ra sẽ làm tăng nhiệt độ trên toàn cầu và sẽ làm thay đổikhí hậu trong tương lai.