Chương 1 TONG QUAN 1. Đặc điểm sinh ly heo hai máu Hiện nay, ngành chăn nuôi heo phát triển mạnh, nhiều trang trại chăn nuôi heo giống được thiết lập dé đáp ứng nhu cau của trại. Trong các giống heo được chọn lam giống thì giống heo Yorkshire và Landrace thường được chon dé lai tạo với nhau dé tạo thành heo giống hai máu từ đòng bố Yorkshire và đòng mẹ Landrace hoặc ngược lại. Đây được coi là đòng ưa chuộng trong việc tạo heo cái thương phẩm dé sử dụng trong công thức lai tạo ra đàn heo thịt thương pham bởi các heo cái lai này sẽ đạt ưu thế lai cao nhất về khả năng sinh sản, khả năng chăm con cũng như thích nghỉ tốt với môi trường vả có sức đề kháng cao.
Với các heo đực được tạo ra từ công thức lai L x Y hoặc Y x L vì không sử dụng làm giống nên sẽ được nuôi sản xuất thịt mặc dù có những hạn chế về sức tăng trưởng và nhất là độ day mỡ lưng cao so với các heo được nuôi thật sự dé sản xuất thịt thường sẽ là từ một công thức lai ba hoặc thậm chí bốn dòng máu. Heo Yorkshire Day là giống heo có nguồn gốc từ nước Anh và được phô biến dé chọn làm giống ở Việt Nam. Heo có đặc điểm tai đứng, sườn det (hình 1.1), chân cao di lại nhanh nhẹn, phát triển nhanh, có bộ lông màu trắng cứng và có điểm các vết xám đen trên đa. Hiện nay, giống heo Yorkshire đứng đầu trong tổng đàn heo ngoại nhập và chiêm tỷ lệ máu cao trong nhóm heo lai ngoại.
(Nguồn: https://www.com/wp-content/uploads/2016/04/American- Yorkshire-Pig.jpg) Ưu điểm của giống heo này là hình thé tốt, chan khỏe, khả năng sinh san và nuôi con tốt (American Yorkshire, 2018). Ngoài ra, heo có sức đề kháng và khả năng thích nghỉ cao với điều kiện thời tiết khắc nghiệt, có nhiều biến đổi bất thường. Heo đực trưởng thành có trọng lượng 250-400kg, heo nai có trọng lượng 200- 320kg/ con. Heo thịt nuôi 6 tháng tuổi đạt trọng lượng 90-100kg với tỷ lệ nạc từ 52- 55% (Lê Hồng Mận, 2006).
Heo Landrace Heo Landrace có xuất xứ từ Dan Mach, có nhiều nạc, lông trắng tuyén, đầu nhỏ, mông đùi to, hai tai xụ bít mắt, chân nhỏ, đi trên ngón, nhìn ngang than hình như một tam giác, heo có chiều đài cơ thể và trọng lượng lý tưởng. Heo Landrace có thể đạt trọng lượng 80-90kg lúc 6 tháng tuổi. Giống Landrace có khả năng lai tốt với các giống khác và heo nái giống Landrace đẻ sai, nuôi con giỏi, tỷ lệ nuôi sống cao (American Landrace, 2018). Đặc điểm riêng của heo là có đôi tai to, cúp về phía trước che lap mặt (hình 1.
Heo đực trưởng thành có trọng lượng 270-400kg, heo nai có trọng lượng 200-300kg/ con. Heo thịt nuôi 6 tháng tuổi đạt trọng lượng 90-100kg với tỷ lệ nạc từ 54-56% (Lê Hồng Man, 2006).html?sortBy=relevant) Tổng đàn heo ngoại, giống heo Landrace đứng hang thứ hai sau heo Yorkshire và hiện được các nhà chăn nuôi quan tâm sử dụng làm chất liệu dé “nac hóa” đàn heo thịt ở nhiều tỉnh thành Việt Nam. Heo lai từ hai dong máu trên nuôi 6 tháng đạt trọng lượng 90kg, hệ số chuyên hóa thức ăn 2,5-2,8kg TA/kgTT và tỷ lệ nạc 52-53%. Do là hai dòng máu liên quan đến hướng chọn làm giống sinh sản nên các heo con lai từ hai giống heo trên, khi được giữ nuôi sản xuất thịt thường tương đối chậm lớn, có hệ số chuyên hóa thức ăn cao, các trang trại nuôi xuất thịt thì thường xuất chuồng sớm với trọng lượng khoảng 90kg trở lại vì độ đày mỡ lưng rất cao khó xuất bán nếu nuôi trọng lượng cao hơn.
Sơ lược về iod Iod có tên nguyên gốc tiếng Anh là Iodine (gốc tiếng Hy Lap iodes nghĩa là tím). lod là thành phan của tuyến giáp, mối liên hệ này là iodothyrin, sau này được cho rằng đây là nguyên lý hoạt động của tuyến giáp (Baumann, 1895). Tuy nhiên, iod không phải là thành phần hoạt động của tuyến giáp (Picke và ctv, 1909). Nguyên lý hoạt động của tuyến giáp là hormon thyroxin.
Iod là nguyên tố tham gia cấu tạo nên thyroxin (Kendal, 1919). Trong tự nhiên chỉ gặp iod ở dạng hợp chất, chủ yếu là các muối natri và kali của chúng có nhiều trong nước biển. Hợp chat của iod còn gặp trong một số loài rong biển. Khi đun nóng, iod biến thành hơi màu tím, khi làm lạnh, hơi iod lại chuyển thành tinh thể, không qua trạng thái lỏng.
Ngược lại, trong điều kiện nhiệt độ thường, iod ở dạng tinh thé (thé rắn) cũng có thé bay hơi thành thể khí. Hiện tượng này gọi là sự thăng hoa của iod. Iod tan trong nước nhưng tan nhiều trong các dung môi hữu cơ như rượu, xăng, benzen, cloroform. Iod có khối lượng riêng là 4,93 g/cm, nhiệt độ nóng chảy là 113,5°C, sôi ở 184,35°C và thăng hoa ở nhiệt độ thường (Barnard Courtois, 1811).
Vai trò của iod trong qua trình tổng hợp hormon tuyến giáp Tuyến giáp là tuyến nội tiết lớn nhất trong cơ thể bao gồm số lượng lớn nang kín (đường kính 100-300 micromet) chứa chat bài tiết gọi là chất keo có thành phần chính là glycoprotein thyroglobulin chứa hormon tuyến giáp, được lót bằng lớp tế bào hình khối và tiết hormon vào lòng nang. Hai hormon chính của tuyến giáp là: thyroxine (T4) và triiodothyronine (T3). Hầu hết hormon tuyến giáp được chuyền hóa cuối cùng thành triiodothyronine (T3) ở trong mô. Nồng độ của hormon tuyến giáp phụ thuộc vào yếu tố di truyền, môi trường và tinh trạng dinh dưỡng của động vật (Todini L, 2007).
Chức năng của hai hormon này giống nhau là làm tăng chuyên hóa chất trong cơ thể, chỉ khác nhau về vận tốc hoạt động cua triiodothyronine (T3) mạnh gấp khoảng 4 lần so với thyroxine (T4) nhưng tồn tại trong máu với lượng nhỏ và thời gian ngắn hơn nhiều so với thyroxine (T4) (Farhana Ahad va ctv, 2010). Cơ chế hấp thu iod và sự hình thành hormon tuyến giáp Tod trong thức ăn khi vào cơ thé được hap thu từ đường tiêu hóa và đi vào máu và được sử dụng đề tông hợp nên hormon tuyến giáp. Sự hấp thu iod chủ yếu xảy ra ở ruột non (Kezt va ctv, 1989) và ở dạ co đối với thú nhai lại (Underwood và ctv, 1977). Quá trình vận chuyền iod vào tế bào tuyến giáp và nang giáp chịu ảnh hưởng bởi nhiều yêu tố, đặc biệt là nồng độ TSH (thyroid- stimulating hormone) dưới sự ảnh hưởng của nhiệt độ môi trường.
Khi trời lạnh thì tuyến giáp hoạt động mạnh tiết ra nhiều T3, T4, khi trời nóng thì ngược lại (hình 1. Hoạt động của TSH thông qua cơ chế phản hôi điều chỉnh lượng T4 trong máu, T4 giảm sẽ kích thích tuyến yên tăng tiết TSH, do đó kích thích tuyến giáp giải phóng T4 vào tuần hoàn dé duy trì mức độ bình thường của hormon trong máu (Pal, 2007). TSH là hormon do thùy trước tuyến yên phân tiết giúp tăng các hoạt động bài tiết của tuyến giáp thông qua trung gian AMP vòng. TSH sẽ kết hợp với receptor đặc hiệu trên màng tế bào của tuyến giáp làm hoạt hóa adenylyl cylase và cAMP hoạt động như một chat truyền tin thứ hai hoạt hóa protein kinase dẫn đến phosphoryl hóa.
Kết quả là làm tăng bài tiết hormon tuyến giáp. TSH điều hòa sự tổng hợp và bài tiết T3 và T4 của tuyến giáp. Ngoải ra, hormon giải phóng thyrotropin (TRH) được tiết ra bởi vùng dưới đôi và điều chỉnh sự bài tiết TSH của tuyến yên. Vùng dưới đồi (? Tang nhiệt độ) (TRH) Thùy trước tuyến yên , Ucchê ` 1 / / ? , Phỳ đại ,¢ _ ! Tăng - | 2 + _f@ i 4 Tang bai a J + <.Ó ® r lod Tuyến giáp tế bào Hình 1.
Yếu tố điều hòa hormon tuyến giáp (Nguồn: Medrano và He, 2016) 1. Bơm iod Đề hình thành hormon tuyến giáp, iod cần được vận chuyên từ máu vào các tế bào tuyến giáp và nang giáp bằng một hệ thống vận chuyền tích cực. Màng đáy của tế bào tuyến giáp có khả năng bom iod tích cực vào bên trong tế bào nhờ hoạt động của sodium-iodine symporter, đồng vận chuyên 1 ion iod và 2 ion natri. Năng lượng ATPase (ATPase — adenosine triphosphatase) giúp cho sự vận chuyền này chống lại gradient nồng độ từ bơm Na+/K+ (Khurana, 2006).
Quá trình tập trung iod vào bên trong tế bào được gọi là bẫy iod (iodine trapping). Một tuyến giáp bình thường, bơm iod duy trì được nồng độ trong tuyến gap khoảng 30 lần nồng độ trong máu. Iod được vận chuyền ra ngoài tế bào tuyến giáp qua màng đỉnh vào nang bởi pendrin — một phân tử vận chuyên clo-iod ngược chiều. Khi iod kết hợp với acid amin tyrosin thì các tế bào biểu mô tuyến giáp cũng tiết vào lòng ống thygrobulin.
Quá trình tống hợp hormon tuyến giáp Quá trình gắn kết với acid amin tyrosin: phân tử iod gắn với acid amin tyrosin dé hình thành MIT (mono iodo tyrosine) hoặc DIT (di-iodo tyrosine), sau đó 2 phân tử này hợp thành triodothyroxin T3 hoặc thyroxin T4, kích tố giáp trạng (Hình 1. T3 và T4 tham gia nhiều phản ứng sinh hóa quan trọng đặc biệt là tổng hợp protein và hoạt động của enzyme. Co quan mục tiêu chính là não, cơ, tim đang phát triển, tuyến yên và thận. ae Thyroxine (T,) Tan?NH,4a 103-0 Đàc- = H NH, (2 tyrosine + 41) 2g b-2/-42 px .“ San?NH,vÑ== 10-XD-0 4-4 c- có H NH, ‘ou (2 tyrosine + 31) Hình 1.
Iod nguyên tử ở dạng oxy hoá được gắn vào tyrosin dé tạo thành hormon T3 và T4 (Nguồn: Guyton và Hall, 2011) Tuyến giáp khác với tuyến nội tiết khác, nó có khả năng chứa một lượng lớn hormone tuyến giáp do mỗi phân tử thyroglobulin chứa tới 30 phân tử thyroxin và một ít triiodothyronine. Do vậy, các hormon tuyến giáp ở trong các nang cung ứng cho khả năng duy trì lượng hormone bình thường từ 2-3 tháng (Khurana, 2006). Giải phóng hormon tuyến giáp Thyroxin va triiodothyronine được tách ra từ phân tử thyroglobulin và được bài tiết nhờ vào quá trình khuếch tán qua màng đáy tế bào vào các mao mạch xung quanh đề đi vào máu. Khoảng 3/4 tyrosine được iod hóa trong thyroglobulin không biên đôi thành hormon tuyên giáp đi vào máu mà tôn tại ở dạng monoiodotyrosine và diiodotyrosine.
Chúng được phân tach bởi enzyme deiodinase giải phóng iod, do đó lượng iod này có thể được tái sử dụng trong tuyến giáp đề hình thành hormon. Vận chuyển hormon tuyến giáp đến các mô Khi vào tuần hoàn, các hormon tuyến giáp sẽ được gắn với protein huyết tương được tông hợp trong gan sau đó được tiết dan vào mô bào. Khi vào bên trong mô bao, cả thyroxine và triiodothyronine được gắn với các protein trong tế bào, sự gắn kết với thyroxin (T4) mạnh hơn so với triiodothyronine (T3).