Chương 1, tác giả đề cập đến vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi và phương pháp nghiên cứu về tác động của cấu trúc sở hữu đến tỷ lệ tái bảo hiểm và lãi hoạt động nghiệp vụ của các công ty bảo hiểm phi nhân thọ ở Việt Nam. Chương 2, tổng quan cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước đây. Chương 3, giới thiệu mô hình đo lường các biến, phương pháp nghiên cứu và cách thu thập xử lý dữ liệu. Chương 4, trình bày tình hình thực tế, các kiểm định, các kết quả thực nghiệm qua đó đánh giá và đưa ra dự báo, đề xuất.
Chương 5, kết luận và trình bày những hạn chế của đề tài, đề xuất các hướng nghiên cứu cho các nghiên cứu tiếp theo. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2. Tổng quan cơ sở lý thuyết 2. Tái bảo hiểm Trong cuộc sống luôn có những rủi ro tiềm ẩn và để hạn chế thiệt hại khi xảy ra tổn thất người ta đã tìm đến với bảo hiểm.
Sau đó, chính các công ty bảo hiểm lại là đối tượng mang nhiều rủi ro. Vì vậy, họ tìm cách chia sẻ rủi ro mà mình đã nhận cho nhiều công ty khác để dàn trải rủi ro. Đó chính là nguyên nhân hình thành tái bảo hiểm. Trong cuốn sách “Tái bảo hiểm trong thực tiễn” xuất bản năm 1981, ông Robert Kiln đã mô tả tái bảo hiểm là dịch vụ bảo hiểm cho công ty bảo hiểm đối với việc phải gánh chịu một tổn thất quá lớn từ các hoạt động bảo hiểm của họ, và giúp công ty bảo hiểm chuyển một phần trách nhiện của họ cho một người bảo hiểm khác trong một dịch vụ bảo hiểm nhất định mà họ đã chấp nhận.
Tóm lại, tái bảo hiểm có thể được định nghĩa là: bảo hiểm lại cho công ty bảo hiểm về một rủi ro đã được bảo hiểm. Hay Tái bảo hiểm là bảo hiểm của bảo hiểm. Mục đích của tái bảo hiểm là một trong những phương pháp chính nhằm kiểm soát rủi ro và vốn cho các công ty kinh doanh bảo hiểm gốc. Hay hiểu cách khác, tái bảo hiểm chính là phương pháp để chuyển giao rủi ro mà các công ty bảo hiểm gốc đã nhận cho một hoặc nhiều nhà bảo hiểm khác.
Tái bảo hiểm mang lại nhiều lợi ích cho cả công ty bảo hiểm gốc và người tham gia bảo hiểm. Thứ nhất, phân tán rủi ro: Tái bảo hiểm kế thừa nguyên tắc số đông hoạt động bảo hiểm để phân chia rủi ro đã nhận của công ty bảo hiểm gốc. Một thỏa thuận bảo hiểm gốc có thể được san sẻ trách nhiệm với nhiều nhà tái khác nhau. Sau đó, những nhà tái này lại tiếp tục tái cho những công ty nhận tái khác nữa ở phạm vi cả trong và ngoài nước.
Như vậy, với một rủi ro ban đầu đã được chia sẻ đi nhiều nơi. Nếu có xảy ra tổn thất thì mỗi công ty bảo hiểm sẽ chỉ chịu bồi thường một phần. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Điều này không chỉ có ý nghĩa với công ty bảo hiểm gốc mà còn cho khách hàng của chính các công ty này, giúp họ được đảm bảo các quyền lợi của mình. Thứ hai, nâng cao năng lực kinh doanh bảo hiểm: Với năng lực có hạn của mình, các công ty bảo hiểm sẽ khai thác rất hạn chế vì có những hợp đồng quá lớn (như các công trình xây dựng lớn, dầu khí,…) hoặc để tránh nguy cơ tích tụ khi nhận nhiều rủi ro tuy nhỏ nhưng có liên hệ với nhau.
Điều này sẽ làm các công ty bảo hiểm bỏ lỡ nhiều cơ hội kinh doanh. Tuy nhiên, khi có tái bảo hiểm thì công ty bảo hiểm gốc chỉ cần xác định mức trách nhiệm có thể giữ lại theo năng lực của mình, phần vượt khả năng giữ lại sẽ được nhượng cho nhà tái. Nhờ đó, công ty bảo hiểm gốc có thể khai thác những hợp đồng vượt ngoài giới hạn của mình và nhiều sản phẩm phức tạp. Thứ ba, tạo ra sự ổn định và gia tăng khả năng tài chính: Công ty bảo hiểm gốc có thể tránh được sự biến động về các khoản chi bồi thường của mình nhờ các hợp đồng tái bảo hiểm.
Đồng thời, khi nhượng tái thì nhà tái sẽ trả lại cho công ty gốc một khoản phí hoa hồng xem như bù đắp một phần chi phí khai thác và quản lý dịch vụ gốc. Đây là một khoản thu an toàn và chắc chắn hơn. Bên cạnh đó tái bảo hiểm còn giúp tăng biên khả năng thanh toán của công ty bảo hiểm gốc, làm tăng khả năng chi trả bồi thường cho khách hàng. Theo Các yếu tố quyết định của tái bảo hiểm ở thị trường bảo hiểm cháy nổ tài sản Thụy Điển trong những năm chiến tranh, 1919-39, Hale Abdul Kader, Michael Adams, Lars Fredrik Andersson và Magnus Lindmark (2010) đã tìm thấy rằng tái bảo hiểm đã làm giảm thiểu rủi ro nghiệp vụ và khả năng thanh toán cho các công ty bảo hiểm cháy nổ ở Thụy Điển, do đó làm tăng khả năng khai thác dịch vụ mới.
Lãi hoạt động kinh doanh bảo hiểm Lãi hoạt động kinh doanh bảo hiểm (hay còn gọi là lãi nghiệp vụ bảo hiểm) là phần thu nhập được tạo ra từ phần chênh lệch giữa số phí thu được với các nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Lãi hoạt động kinh doanh bảo hiểm là một chỉ số quan trọng của bất kỳ một doanh nghiệp bảo hiểm. Đây là nguồn lãi chính, quyết định kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Ngoài ra, đây còn là chỉ tiêu phản ánh rõ nhất tình trạng hoạt động, phát triển của doanh nghiệp đó.
Lãi hoạt động kinh doanh bảo hiểm còn cho thấy khả năng đánh giá, quản lý rủi ro của doanh nghiệp. Lãi càng cao thì khả năng quản lý rủi ro của doanh nghiệp càng tốt. Nếu lãi hoạt động kinh doanh bảo hiểm của doanh nghiệp bị âm hoặc bằng 0 thì doanh nghiệp hoàn toàn không kiểm soát rủi ro dịch vụ và chất lượng dịch vụ được bảo hiểm rất xấu, hay cũng có thể là doanh nghiệp hoàn toàn ngừng tham gia dịch vụ mới. Do điều kiện kinh doanh, đối tượng khách hàng, thời điểm kinh doanh khác nhau làm lãi hoạt động kinh doanh bảo hiểm của các doanh nghiệp tại mỗi thời điểm cũng khác nhau.
Ngoài ra quy mô của doanh nghiệp khác nhau thì lãi nghiệp vụ thu được cũng khác nhau. Do vậy để đánh giá một cách đầy đủ lãi hoạt động kinh doanh bảo hiểm của doanh nghiệp thì phải sử dụng chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu hoặc tổng tài sản của doanh nghiệp, vì thể hiện trình độ kinh doanh của doanh nghiệp trong việc sử dụng các yếu tố đó. - Tỷ suất lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm theo doanh thu: Là chỉ số phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh bảo hiểm của doanh nghiệp theo doanh thu, được tính bằng công thức: 𝑇ỷ 𝑠𝑢ấ𝑡 𝑙ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑡ừ ℎ𝑜ạ𝑡 độ𝑛𝑔 𝑘𝑖𝑛ℎ 𝑑𝑜𝑎𝑛ℎ 𝑏ả𝑜 ℎ𝑖ể𝑚 𝑡ℎ𝑒𝑜 𝑑𝑜𝑎𝑛ℎ 𝑡ℎ𝑢 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑙ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑡ừ ℎ𝑜ạ𝑡 độ𝑛𝑔 𝑘𝑖𝑛ℎ 𝑑𝑜𝑎𝑛ℎ 𝑏ả𝑜 ℎ𝑖ể𝑚 = 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑑𝑜𝑎𝑛ℎ 𝑡ℎ𝑢 Qua công thức cho thấy hiệu quả của một đồng doanh thu thì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận. - Tỷ suất lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm theo tổng tài sản : LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Là chỉ số phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh bảo hiểm của doanh nghiệp theo tổng tài sản, được tính bằng công thức: 𝑇ỷ 𝑠𝑢ấ𝑡 𝑙ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑡ừ ℎ𝑜ạ𝑡 độ𝑛𝑔 𝑘𝑖𝑛ℎ 𝑑𝑜𝑎𝑛ℎ 𝑏ả𝑜 ℎ𝑖ể𝑚 𝑡ℎ𝑒𝑜 𝑡ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑙ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑡ừ ℎ𝑜ạ𝑡 độ𝑛𝑔 𝑘𝑖𝑛ℎ 𝑑𝑜𝑎𝑛ℎ 𝑏ả𝑜 ℎ𝑖ể𝑚 = 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 Qua công thức cho thấy hiệu quả của một đồng tài sản thì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Cấu trúc sở hữu Cấu trúc sở hữu của doanh nghiệp là cơ cấu vốn góp của doanh nghiệp, tỷ lệ với số vốn chủ sở hữu cùng với quyền và nghĩa vụ tương ứng. Cấu trúc sở hữu có tác động lớn và mang ý nghĩa quyết định đến hoạt động kinh doanh, phát triển và lợi ích đem lại cho doanh nghiệp cũng như các quyết định điều hành của nhà quản lý. Căn cứ theo quyền kiểm soát, cấu trúc sở hữu chia thành hai loại đó là sở hữu phân tán và sở hữu tập trung. Ngoài ra, căn cứ theo mối quan hệ liên quan, liên kết giữa các nhóm sở hữu thì được chia thành cấu trúc kim tự tháp và cấu trúc sở hữu chéo.
Loại hình cấu trúc sở hữu của doanh nghiệp sẽ quyết định cấu trúc điều hành, kiểm soát của doanh nghiệp. Ngoài ra, cấu trúc sở hữu còn có thể được phân loại dựa vào đối tượng sở hữu như sở hữu tư nhân, sở hữu nhà nước, sở hữu nước ngoài… Mỗi đối tượng sở hữu có hành vi và thái độ khác nhau đối với việc hoạch định chiến lược quản trị, kinh doanh cho doanh nghiệp, từ đó mang lại hiệu quả kinh doanh khác nhau. Các nghiên cứu trước đây Có nhiều nghiên cứu trước đây trên thế giới nghiên cứu về các yếu tố có thể ảnh hưởng đến tỷ lệ tái bảo hiểm của một doanh nghiệp bảo hiểm. Như nghiên cứu của David M.
(1990) chỉ ra rằng cơ cấu tổ chức có liên quan đến nhu cầu tái bảo hiểm và các công ty bảo hiểm tương hỗ tham gia tái bảo hiểm nhiều hơn các công ty cổ phần. Hay nghiên cứu của Yung M. (2011) tìm thấy rằng tồn tại LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và tỷ lệ tái bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó một công ty bảo hiểm sử dụng nhiều đòn bẩy sẽ mua tái bảo hiểm nhiều hơn và ngược lại. (2006) lại chứng minh tình hình thị trường tái bảo hiểm ở Mỹ có tác động đáng kể đến nhu cầu tái bảo hiểm của các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước.
Tuy nhiên, có rất ít nghiên cứu xem xét về cấu trúc, sở hữu và tỷ lệ tái bảo hiểm. Hai nghiên cứu của Wu L. (2010) tìm ra rằng không tồn tại mối quan hệ giữa hình thức sở hữu (công ty bảo hiểm trong nước hay nước ngoài) và tỷ lệ tái bảo hiểm. Tuy nhiên, Skipper (1997) đã chỉ ra rằng các công ty bảo hiểm nước ngoài có vai trò đóng góp tích cực vào thị trường bảo hiểm của các nước trong giai đoạn chuyển đổi nền kinh tế và các nước đang phát triển.