Chương I: Khái quát về hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam Chương II: Trí tuệ nhân tạo và sự phát triển của trí tuệ nhân tạo Chương III: Những tác động của trí tuệ nhân tạo đến hệ thông pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam Chương IV: Giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo phát triển mạnh mẽ 5 NỘI DUNG CHUONG I. KHÁI QUÁT VE HE THONG PHÁP LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ VIỆT NAM 1. Khái niệm hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam Sở hữu trí tuệ là những thành quả do trí tuệ con người tạo ra thông qua hoạt động sáng tạo, được thừa nhận là tài sản và được gọi là tài sản trí tuệ. Sở hữu các tài sản trí tuệ thường được gọi tắt là sở hữu trí tuệ (hay còn gọi là sở hữu tri thức).
Khác với các loại tài sản hữu hình (động sản hay bat động san), tài san trí tuệ là loại tai sản đặc biệt, tài sản vô hình song trong nhiều trường hợp lại có giá trị to lớn. Có nhiều quan điểm về sở hữu trí tuệ, sở hữu trí tuệ có thé là “loại hình sở hữu liên quan đến những mẫu thông tin có thê kết hợp chặt chẽ với nhau trong những vật thể hữu hình xuất hiện trong cùng một thời gian với số lượng bản sao không giới hạn ở những địa điểm khác nhau trên thế giới. Quyền sở hữu trong trường hợp này không phải là quyền sở hữu bản thân các bản sao mà chính là những thông tin chứa đựng trong bản sao đó”[3]. Theo Điều 2(viii) của Công ước Stockholm ngày 14 tháng 7 năm 1967 về thành lập Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới, sở hữu trí tuệ (intellectual property) được định nghĩa là các quyền liên quan tới: Các tác pham van hoc, nghé thuat va khoa hoc.
- Budi biểu diễn của các nghệ sĩ, ban ghi âm (thu âm), chương trình phát thanh, truyền hình. - Sang chê thuộc mọi lĩnh vực với sự nô lực sáng tao của con người - Kiéu dáng công nghiệp. - _ Nhãn hiệu hàng hoá, nhãn hiệu dich vụ, tên thương mại và chỉ dẫn thương mại, thương hiệu, biểu trưng. - _ Quyền bảo hộ chống cạnh tranh không lành mạnh.
- Va tất cả các quyền khác liên quan đến hoạt động trí tuệ của con người trong các lĩnh vực công nghiệp, khoa học, văn học hoặc nghệ thuật. Chúng ta cũng hoàn toàn có thê hiéu đơn giản sở hữu trí tuệ là sự sở hữu đôi với những tài sản trí tuệ - thành quả do trí tuệ con người tạo ra thông qua hoạt động sáng 6 tạo. Sở hữu trí tuệ có hai mảng chính là Sở hữu công nghiệp và Quyền tác giả, đồng thời mới đây có thêm Hiệp hội bảo vệ giống cây trồng (UPOV). Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác, pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện dé điều chỉnh các quan hệ xã hội theo mục đích, định hướng của Nhà nước.
Pháp luật có tính hệ thống bởi vì pháp luật là một hệ thong các quy phạm dé điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực khác nhau của đời sống, các quy phạm này không tồn tại một cách biệt lập mà giữa chúng có mối liên hệ nội tại và thống nhất với nhau dé tạo nên một chính thể là hệ thong pháp luật [4] Như vậy, hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam là một hệ thống các quy phạm của Nhà nước Việt Nam đặt ra hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện dé điều chỉnh các quan hệ xã hội thuộc lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Sau 30 năm đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế, hệ thong pháp luật sở hữu tri tuệ ở Việt Nam đã có những bước tiễn vượt bậc. Theo đánh giá, hệ thống pháp luật về bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ của Việt Nam không những đạt chuẩn tối thiêu của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) mà còn đạt tiêu chuẩn cao hơn theo Hiệp định Thuong mai song phương với Hoa Kỳ, có thé sánh với các nước tiên tiến trong khu vực và đang hướng tới các chuẩn mực tiên tiễn của thế giới theo các cam kết trong các FTA thế hệ mới về các tiêu chí có lợi cho chủ sở hữu quyền [5]. Khung pháp luật đó bao gồm quy định về bảo hộ quyên sở hữu trí tuệ trong Hiến pháp năm 2013, Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đôi, bố sung năm 2009; tiếp tục sửa đổi, bố sung năm 2019) cùng các văn bản hướng dẫn thi hành Luật này, và các Luật khác có liên quan như Luật Khoa học và công nghệ 2013, Luật Hải quan 2014, Luật Chuyên giao công nghệ 2006.
Việt Nam cũng là thành viên của các điều ước quốc tế đa phương quan trọng nhất về sở hữu trí tuệ như Hiệp định TRIPS về các khía cạnh thương mại của quyền sở hữu trí tuệ trong khuôn khổ các hiệp định của Tổ chức Thương mại thé giới (WTO), Công ước Berne về bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, Công ước Pari về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, Công ước UPOV về bảo hộ giống cây trồng mới. Pháp luật Việt Nam bảo hộ các loại đối tượng quyên sở hữu trí tuệ đa dang, bao gôm: 7 (1) Các đối tượng của quyền tác giả (tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học) và đối tượng của quyền liên quan đến quyền tác giả (cuộc biểu diễn; bản ghi âm, ghi âm; chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa). Pháp luật hiện hành quy định rõ các điều kiện bảo hộ đối với từng loại đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, cơ chế xác lập quyền, nội dung quyền, giới hạn quyền, cơ chế bảo vệ và thực thi quyên và các chê tài đôi với hành vi xâm phạm quyên sở hữu trí tuệ. Nhìn tổng thể, mặc dù hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ của Việt Nam được xây dựng và hoàn thiện với tốc độ nhanh chóng, nhìn chung tương thích với chuẩn mực quốc tế (Hiệp định TRIPS), nhưng TRIPS chỉ đặt ra các tiêu chuẩn bảo hộ tối thiểu mang tính chất khung, định hướng cơ bản cho mỗi quốc gia xây dựng pháp luật sở hữu trí tuệ của mình.
Đối chiếu pháp luật Việt Nam với pháp luật sở hữu trí tuệ của các nước phát triển như Mỹ, Liên minh châu Âu và thậm chí là với nước láng giềng Trung Quốc, có thê thay pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam còn có khoảng cách khá xa. Nhiều quy định còn thiếu văng, chưa đầy đủ, chưa chỉ tiết, cụ thể, hoặc chưa thích ứng với xu hướng thay đổi của thế giới. Các quy định pháp luật về sở hữu trí tuệ chưa day đủ cũng là một nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự thiếu hiệu quả của tòa án Việt Nam trong việc giải quyết các vụ án tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ. Khái quát về quyền tác giả Trong pháp luật quốc tế, các quy định về quyền tác giả đã đưa ra những trường hợp cho phép hoặc cấm người khác sử dụng tác phẩm, phổ biến tác phẩm của tác giả.
Hệ thống pháp luật dân sự bảo vệ quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả. Dựa trên sự phát triên pháp luật của các quôc gia vê quyên tác giả, thuật ngữ quyên tác giả ngày càng được hiéu rộng hơn về nội dung và phạm vi bảo vệ, cũng như xác định rõ hành vi nào xâm phạm quyên tác gia và những biện pháp đê bảo vệ tác phâm khỏi hành vi xâm phạm này. Mặc dù hệ thống pháp luật khác nhau dẫn đến việc các 8 quôc gia có cách định nghĩa riêng vê quyên tac giả, tuy nhiên quyên tác giả được biệt đên như một loại quyên chính đáng của người sáng tạo, những người tham gia vào các hoạt động văn hóa nghệ thuật, khoa học. Ở Việt Nam, khái niệm về quyền tác giả cũng đã được biết đến từ trước năm 1945.
Tuy nhiên, dưới chế độ dân chủ, nhân dân thì quyền tác giả được coi trọng và là động lực thúc đây việc tạo ra những tác phâm có giá tri phục vụ trực tiếp cho sự nghiệp bảo vệ Tô quôc và xây dựng đât nước ngày càng phát triên trên mọi lĩnh vực. Việc bảo hộ quyền tác giả nhằm mục đích hướng tới khuyến khích các hoạt động sang tạo trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật và khoa học, dé tạo ra thành quả là những tác phâm có giá trị trong lĩnh vực trên, từ đó làm giàu có và phong phú nền tang văn hóa quốc gia, góp phần vào công cuộc phát triển kinh tế, thương mại, văn hóa, giáo dục của đât nước. Pháp luật có vai trò quan trọng trong hoạt động bảo hộ quyền tác giả. Hoạt động bảo hộ quyên tác giả được hiểu là thông qua các quy định pháp luật, nhà nước trao quyền cho các chủ thê quyền hoặc ngăn cấm các chủ thé thực hiện hành vi cụ thể.
Tất cả những biện pháp đó dé đảm bao lợi ích của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, đồng thời cộng đồng cũng có thé tiếp cận tác phẩm một cách hợp pháp. Chủ thê của quyền tác giả Chủ thê của quyên tác giả bao gồm tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả. * Tác giả: Tác giả là người trực tiếp sang tao ra một phần hoặc toàn bộ tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học. Chỉ những cá nhân trực tiếp thực hiện hoạt động sáng tạo dé tao ra tac pham van hoc, nghệ thuật và khoa hoc mới được công nhận là tác gia của tác phẩm đó.
Những người hỗ trợ, hướng dẫn, góp ý kiến hay cung cấp thông tin tư liệu.cho tác giả thì không được công nhận là tác giả. Tác giả được bảo hộ theo Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam được xác định theo 3 tiêu chí: - Tiêu chí quốc tịch: cá nhân Việt Nam sáng tạo ra tác phâm ở Việt Nam hay ở nước ngoài đêu được bảo hộ quyên tác giả; 9 - Tiêu chí lãnh thé: cá nhân nước ngoài có tác phẩm được sáng tạo va thé hiện dưới hình thức vật chất nhất định tại Việt Nam hoặc có tác phẩm được công bồ lần đầu tiên tại Việt Nam được bảo hộ quyền tác giả; - Tiêu chí Điêu ước quôc tê: Cá nhân nước ngoài có tác phâm được bảo hộ tại Việt Nam theo điêu ước quôc tê vê quyên tác giả mà Việt Nam là thành viên. Dựa vào số lượng người tạo ra tác phâm, có thể phân loại tác giả thành tác giả đơn nhất và đồng tác giả.